Mở đầu”, “Kết luận” và “Danh mục tài liệu tham khảo” nội dung chính của đề tài gồm ba chƣơng: 3 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn. Chƣơng 2: Thiết kế và tổ chức dạy học một số chủ đề môn Toán 10 theo hƣớng vận dụng phƣơng pháp dạy học hợp tác với sự hỗ trợ công nghệ thông tin và truyền thông. Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm. 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu nước ngoài Đã có nhiều các nghiên cứu về dạy học hợp tác trên thế giới. Có thể kể đến một số nghiên cứu sau: Gautam, M. (2016) đã thực hiện nghiên cứu nhằm khám phá việc giảng dạy hợp tác đóng góp vào việc học toán và tìm ra những thách thức trong việc áp dụng phƣơng pháp hợp tác học tập này trong việc giảng dạy môn toán.
Đối tƣợng tham gia vào nghiên cứu là hai giáo viên toán cấp hai của trƣờng học viện sáng tạo, Kirtipur và trƣờng Trung học cơ sở Green, Kalanki Bafal cùng 12 học sinh toán cấp hai từ hai trƣờng trên. Kết quả nghiên cứu cho thấy thách thức lớn nhất mà học sinh phải đối mặt khi áp dụng dạy học hợp tác trong dạy học toán khó kiểm soát lớp học và sự khác biệt giữa các học sinh trong các lớp học hợp tác [23]. Peter Finch (2015) đã thực hiện nghiên cứu nhằm khám phá phƣơng pháp học tập hợp tác và tác động đến thành tích học tập môn toán nói chung của học sinh trung học cơ sở. Đối tƣợng tham gia vào nghiên là 47 học sinh từ lớp 6 đến lớp 8 của một trƣờng tƣ thục.
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng trong các lớp học áp dụng phƣơng pháp học hợp tác, học sinh có tốc độ học tập môn toán vƣợt quá mức trung bình của cả nƣớc, các em xây dựng đƣợc mối quan hệ bền chặt với các bạn cùng lớp và thích làm việc trong các nhóm hợp tác [27]. Mohammed Shafiuddin (2010) nghiên cứu đổi mới phƣơng pháp dạy học từ phƣơng pháp lấy giáo viên là trung tâm sang phƣơng pháp lấy ngƣời học làm trung tâm để giúp họ có thể tự làm việc mà không cần sự hỗ trợ của giáo viên. Phƣơng pháp học tập hợp tác cho phép tất cả ngƣời học trong lớp học làm việc cùng nhau và đi đến giải pháp cuối cùng trên cơ sở làm việc theo nhóm. Đối tƣợng tham gia vào nghiên cứu là 48 học sinh theo tiêu chuẩn IX đƣợc lấy từ 2 5 trƣờng học của quận Adilabad (mỗi trƣờng 24 học sinh).
Kết quả nghiên cứu cho thấy có một sự khác biệt cực kỳ đáng kể giữa điểm trƣớc và điểm sau bài kiểm tra của nhóm phƣơng pháp thực nghiệm đối với Giới tính. Trong nghiên cứu này, phƣơng pháp học tập hợp tác đƣợc cho là hiệu quả hơn so với phƣơng pháp thông thƣờng. Phƣơng pháp thông thƣờng có thể cải thiện thành tích của học sinh ở một mức độ nhất định. Nhƣng khi so sánh với phƣơng pháp học tập hợp tác thì phƣơng pháp thông thƣờng không hiệu quả bằng [26].
Karen Hillen (2006) đã thực hiện nghiên cứu nhằm điều tra tính hiệu quả của việc sử dụng phƣơng pháp học tập hợp tác trong môn toán. Đối tƣợng tham gia vào nghiên cứu là học sinh lớp 6 trong môn toán. Kết quả nghiên cứu phát hiện ra rằng sự gia tăng khả năng thảo luận và học tập hợp tác của học sinh đã dẫn đến những thay đổi tích cực trong thái độ của học sinh về khả năng giải thích và hiểu toán, cũng nhƣ khả năng thực tế của họ để giải thích và hiểu các khái niệm toán học [24]. E Maelasari và Wahyudin (2017) đã thực hiện nghiên cứu mô tả sự gia tăng khả năng giao tiếp toán học, và sự khác biệt giữa học sinh nhận đƣợc học tập hợp tác STAD và học sinh nhận đƣợc hƣớng dẫn trực tiếp.
Đối tƣợng tham gia vào nghiên cứu là học sinh lớp 5 của một trong những trƣờng tiểu ở Quận Cibeureum, Kuningan. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự cải thiện khả năng giao tiếp toán học của học sinh Hƣớng dẫn trực tiếp đạt điểm cao hơn đáng kể so với học sinh học theo phƣơng pháp học hợp tác STAD. Việc phân nhóm theo khả năng của học sinh sẽ cho thấy tác động tích cực đến kết quả học tập của học sinh trong lớp học [21]. Masoud Gholamali Lavasan và Farah Khandan (2011) đã thực hiện nghiên cứu hiện nhằm điều tra hiệu quả của việc học hợp tác đối với sự lo lắng về toán học và giúp tìm kiếm hành vi của các học sinh nữ trung học lớp một.
Đối tƣợng tham gia nghiên cứu này là tất cả học sinh nữ lớp một của các trƣờng trung học công lập Karaj. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng phƣơng pháp học 6 hợp tác so với phƣơng pháp truyền thống, làm giảm đáng kể sự lo lắng về toán học ở học sinh và tăng hành vi tìm kiếm hành vi giúp đỡ và giảm thành phần né tránh (p <0,05) ở các em [25]. Morgan (2016) đã thực hiện nghiên cứu nhằm điều tra hiệu quả của việc áp dụng phƣơng pháp dạy học cộng tác trong bộ môn toán đối với học sinh. Đối tƣợng nghiên cứu là học sinh Latino lớp năm.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra bốn thay đổi trong hành vi của học sinh: 1) học sinh tham gia nhiều hơn vào việc giải quyết vấn đề; 2) học sinh chuyển từ lập trƣờng cạnh tranh sang lập trƣờng hợp tác; 3) học sinh phát hiện ra có một số cách tìm lời giải đúng; và 4) học sinh đã chuyển mã giữa tiếng Tây Ban Nha và tiếng Anh để đảm bảo mọi ngƣời trong nhóm đều hiểu. Hai thay đổi trong hành vi của giáo viên liên quan đến học hợp tác là: 1) giáo viên trong lớp bình thƣờng chuyển bàn từ hàng sang nhóm; và 2) giáo viên nhận thức rõ hơn về khả năng toán học của học sinh [18]. Ahmadi MS (2007) đã tiến hành nghiên cứu nhằm điều tra hiệu quả của việc sử dụng công nghệ trong dạy học hợp tác. Đối tƣợng tham gia nghiên cứu là 152 học sinh đang học lớp thứ năm tại trƣờng tiểu học.
Kết quả nghiên cứu khẳng định rằng việc sử dụng hỗ trợ công nghệ để kích thích giao tiếp có tác động tích cực không chỉ đến chất lƣợng tƣơng tác mà còn đến chất lƣợng học tập của các thành viên tạo thành hợp tác xã học tập kinh nghiệm. Hơn nữa, bằng cách kích thích các quá trình tinh thần của học sinh, phƣơng pháp của chúng tôi cho phép các em phát triển các kỹ năng toán học ở cấp độ cao hơn và có đƣợc khả năng giải quyết vấn đề [19]. Yılmaz Zengin and Enver Tatar (2017) đã thực hiện nghiên cứu nhằm đánh giá việc thực hiện mô hình học tập hợp tác đƣợc hỗ trợ bằng phần mềm toán học (DMS), phản ánh lý thuyết học tập kiến tạo trong môi trƣờng lớp học, trong việc giảng dạy toán học. Đối tƣợng nghiên cứu là các giáo viên tình nguyện về việc triển khai mô hình học tập hợp tác đƣợc hỗ trợ với DMS và 61 học sinh trung học.
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng mô hình có tác động tích cực đến kết quả học 7 tập của học sinh. Hơn nữa, các quan điểm của học sinh sau đây đã đƣợc xác định: mô hình cho phép hiểu rõ hơn, nó trực quan hóa và cụ thể hóa Toán học, đồng thời nó tạo ra một môi trƣờng học tập thoải mái và thú vị [31]. Robert Slavin, Mary Sheard, Pam Hanley, Louise Elliott (2013) đã thực hiện nghiên cứu nhằm điều tra ảnh hƣởng của Học tập hợp tác có sự hỗ trợ của đa phƣơng tiện với việc học toán trong giai đoạn chính. Đối tƣợng nghiên cứu là giáo viên và học sinh Lớp 4 và Lớp 5 của 42 trƣờng tiểu học trên khắp nƣớc Anh.
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các giáo viên ở Anh đã triển khai hầu hết các yếu tố của học tập hợp tác với đa phƣơng tiện đƣợc nhúng và hầu hết họ đều thích nó. Tuy nhiên, họ thƣờng không thực hiện các yếu tố của chƣơng trình liên quan đến mục tiêu nhóm và trách nhiệm giải trình của cá nhân đối với việc học, điều mà nghiên cứu trƣớc đây cho thấy là cần thiết đối với hiệu quả của học tập hợp tác [29]. Có thể thấy có nhiều các nghiên cứu về dạy học hợp tác, nhƣng việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học hợp tác thì chƣa có nhiều nghiên cứu nhắc đến. Các nghiên cứu trong nước Tại Việt Nam, cũng đã có rất nhiều nghiên cứu về dạy học hợp tác trong môn toán 10 hay ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học toán 10, có thể kể đến các nghiên cứu nhƣ: Tác giả Hoàng Hà (2011) với đề tài luận văn thạc sĩ “Vận dụng phƣơng pháp dạy học hợp tác trong dạy học bài giải tập hình học lớp 10”.
Đối tƣợng nghiên cứu là 80 học sinh lớp của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng. Kết quả nghiên cứu cho thấy phƣơng pháp dạy học hợp tác đã góp phần đáng kể trong việc cải thiện kết quả học tập của học sinh lớp thực nghiệm [2]. Tác giả Nguyễn Thị Hiền và Lê Thị Hiền (2017) có bài đăng với tiêu đề “Tổ chức dạy học hợp tác môn toán cho học sinh trung học phổ thông: Một số ví dụ ban đầu” đƣợc đăng trên tạp chí giáo dục số số đặc biệt tháng 11 năm 8 2017.Nội dung bài đăng tập trung làm rõ các vấn đề liên quan đến dạy học hợp tác môn toán trong trƣờng THPT bao gồm: khái niệm dạy học hợp tác, các thành tố cơ bản của dạy học hợp tác, những hoạt động của giáo viên trong dạy học hợp tác, đề xuất các bƣớc thiết kế tình huống dạy học hợp tác bao gồm 4 bƣớc cụ thể nhƣ sau: (1) Xác định mục tiêu; (2) Chọn nội dung; (3) Thiết kế những tình huống cụ thể và (4) Tổ chức thảo luận trong học tập hợp tác, thiết kế tính huống dạy học hợp tác trong dạy học khái niệm toán học học sinh trung học phổ thông và sử dụng trò chơi toán học giúp trẻ làm quen với tƣợng định hƣớng không gian [6]. Tác giả Vũ Thị Thái và Lê Thị Thúy Hằng (2018) có bài đăng với tiêu đề “Tổ chức dạy học hợp tác theo nhóm trong môn toán 10 ở trường THPT” đƣợc đăng trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ - số 3 (47) tập 1 năm 2008.