CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Học từ trải nghiệm (hoạt động trải nghiệm) gần giống với học thông qua làm, thực hành nhưng học qua làm là nhấn mạnh về thao tác kỹ thuật còn học qua trải nghiệm giúp người học không những có được năng lực thực hiện mà còn có những trải nghiệm về cảm xúc, ý chí và nhiều trạng thái tâm lý khác; học qua làm chú ý đến những quy trình, động tác, kết quả chung cho mọi người học nhưng học qua trải nghiệm chú ý gắn với kinh nghiệm và cảm xúc cá nhân. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Kolb (1984) từng đưa ra một lí thuyết về học từ trải nghiệm (Experiential learning), theo đó, học là một quá trình trong đó kiến thức của người học được tạo ra qua việc chuyển hóa kinh nghiệm; nghĩa là, bản chất của hoạt động học là quá trình trải nghiệm [9]. Từ giữa thế kỉ XX, nhà khoa học giáo dục nổi tiếng người Mĩ, John Dewey, đã chỉ ra hạn chế của giáo dục nhà trường và đưa ra quan điểm về vai trò của kinh nghiệm trong giáo dục.
Với triết lí giáo dục đề cao vai trò của kinh nghiệm, Dewey cũng chỉ ra rằng: Những kinh nghiệm có ý nghĩa giáo dục giúp nâng cao hiệu quả giáo dục bằng cách kết nối người học và những kiến thức được học với thực tiễn. Theo ông học qua trải nghiệm xảy ra khi một người sau khi tham gia trải nghiệm nhìn lại và đánh giá, xác định cái gì là hữu ích hoặc quan trọng cần nhớ và sử dụng những điều này để thực hiện các hoạt động khác trong tương lai [10]. Một số các học giả quốc tế cho rằng: Giáo dục trải nghiệm coi trọng và khuyến khích mối liên hệ giữa các bài học trừu tượng với các hoạt động giáo Luan van 5 dục cụ thể để tối ưu hóa kết quả học tập [7]; Học từ trải nghiệm phải gắn kinh nghiệm của người học với hoạt động phản ánh và phân tích [10]; Chỉ có kinh nghiệm thì chưa đủ để được gọi là trải nghiệm; chính quá trình phản ánh đã chuyển hóa kinh nghiệm thành trải nghiệm giáo dục [8]. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Trong bài báo khoa học của ThS.
Trần Thị Gái - Khoa Sinh học, Trường Đại học Vinh với đề tài nghiên cứu: “Xây dựng và sử dụng mô hình hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học Sinh học ở trường THPT”. Với kết quả nghiên cứu nhận thấy, mô hình hoạt động trải nghiệm sáng tạo rất phù hợp cho việc giảng dạy sinh học ở trường phổ thông theo định hướng phát triển năng lực. Đỗ Ngọc Thống, tác giả giới thiệu kinh nghiệm tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong giáo dục phổ thông nước Anh và Hàn Quốc. Đây đều là những nước đã đưa hoạt động trải nghiệm sáng tạo vào chương trình đào tạo từ sớm và đạt được những kết quả to lớn.
Từ đó tác giả đưa ra kết luận: Lâu nay chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam đã có hoạt động giáo dục nhưng chưa được chú ý đúng mức; chưa hiểu đúng vị trí, vai trò và tính chất của các hoạt động giáo dục. Chưa xây dựng được một chương trình hoạt động giáo dục đa dạng, phong phú và chi tiết với đầy đủ các thành tố của một chương trình giáo dục. Chưa có hình thức đánh giá và sử dụng kết quả các hoạt động giáo dục một cách phù hợp. Dựa vào tình hình nghiên cứu hoạt động trải nghiệm hiện nay, ta có thể thấy rằng dạy học thông qua trải nghiệm đã được các tác giả trong và ngoài nước quan tâm.
Tuy nhiên, hầu hết các tác giả lại chỉ mới nghiên cứu về ý nghĩa của hoạt động trải nghiệm và cách thức tổ chức hoạt động trải nghiệm trong giáo dục phổ thông thông qua hoạt động ngoại khóa. Từ việc phân tích Luan van 6 tình hình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam đã giúp tôi phần nào định hình được nhiệm vụ mà tôi sẽ làm trong đề tài nghiên cứu này. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Hoạt động trải nghiệm a.
Hoạt động Lý thuyết hoạt động được gắn liền với các công trình nghiên cứu của A. Có nhiều quan niệm khác nhau về hoạt động. Theo sinh lí học, hoạt động là sự tiêu hao năng lượng thần kinh và cơ bắp của con người tác động vào hiện thực khách quan nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của con người. Theo tâm lý học, hoạt động là phương thức tồn tại của con người, là sự tác động một cách tích cực giữa con người với hiện thực, thiết lập mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan.
Nhằm tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới (khách thể), cả về phía con người (chủ thể). Trong mối quan hệ đó, có hai quá trình diễn ra đồng thời và bổ sung cho nhau [2]: + Quá trình đối tượng hóa, trong đó chủ thể chuyển năng lực của mình thành sản phẩm của hoạt động, bằng quá trình đối tượng hóa mà tâm lí con người được bộc lộ, được khách quan hóa trong quá trình làm ra sản phẩm. Đó là quá trình chuyển từ trong ra ngoài hay còn gọi là quá trình xuất tâm hoặc quá trình khách thể hóa. + Quán trình chủ thể hóa, có nghĩa là con người bằng hoạt động tác động vào thế giới quan làm bộc lộ ra những thuộc tính, bản chất, những mối quan hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng, con người lĩnh hội chúng chuyển thành kinh nghiệm của mình.
Quá trình chuyển từ ngoài vào trong Luan van 7 theo cơ chế lĩnh hội được gọi là nhập tâm. Thông qua quá trình này, con người tạo nên tâm lý, ý thức, nhân cách. Theo từ điển Tiếng Việt: i) Hoạt động là tiến hành những việc làm có quan hệ với nhau chặt chẽ nhằm một mục đích nhất định trong đời sống xã hội; ii) Hoạt động là vận động, cử động nhằm một mục đích nhất định nào đó [5]. Từ sự phân tích trên, hoạt động là sự tác động qua lại có định hướng giữa con người với thế giới xung quanh, hướng tới biến đổi nó nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình.
Trong quá trình đó, con người luôn tích cực sáng tạo tác động vào thế giới khách quan, tạo sản phẩm về phía thế giới và tâm lý, ý thức, nhân cách được bộc lộ và hình thành trong hoạt động. Trải nghiệm Theo từ điển Tiếng Việt, “trải có nghĩa là đã từng qua, từng biết, từng chịu đựng; còn nghiệm có nghĩa là ngẫm, suy xét hay chứng thực, cũng có nghĩa là kinh qua thực tế nhận thấy điều nào đó là đúng” Trong Tiếng anh, “experience” được dùng với cả 2 nghĩa là kinh nghiệm và trải nghiệm. Trải nghiệm được dùng với nghĩa là động từ. Theo Dewey, kinh nghiệm được hiểu là kinh nghiệm tri giác (sense experience), vừa là nội dung, vừa là phương pháp.
“Mọi thứ đều là do cá nhân trẻ em tự tìm ra thông qua công cụ của chúng, đặc biệt là công cụ tư duy. Khi trẻ em tự mình trải nghiệm thì mới tìm ra được giá trị của điều chúng trải nghiệm (giá trị là điều được thấy trong khi cảm thụ và đánh giá của người học chứ không phải là giá trị tự than của sự vật, hiện tượng). Do đó, giá trị là cái được tìm ra chứ không phải là giá trị cố hữu, giá trị bên trong, kết quả có sẵn” [10]. Như vậy, trải nghiệm là tiến trình hay là quá trình năng động để thu thập kinh nghiệm, trên tiến trình đó có thể thu thập được những kinh nghiệm Luan van 8 tốt hay xấu, thu thập được những bình luận, nhận định, rút tỉa tích cực hay tiêu cực.
Trải nghiệm còn là tri thức hay sự thông thạo về một sự kiện hay một chủ đề có được thông qua sự tham gia hay tiếp xúc trực tiếp. Hoạt động trải nghiệm * Khái niệm Học từ trải nghiệm (hoạt động trải nghiệm) gần giống với học thông qua làm, qua thực hành nhưng học qua làm là nhấn mạnh về thao tác kỹ thuật còn học qua trải nghiệm giúp người học không những có được năng lực thực hiện mà còn có những trải nghiệm về cảm xúc, ý chí và nhiều trạng thái tâm lý khác; học qua làm chú ý đến những quy trình, động tác, kết quả chung cho mọi người học nhưng học qua trải nghiệm chú ý gắn với kinh nghiệm và cảm xúc cá nhân. Từ những nghiên cứu trên, HĐTN trong dạy học là nhiệm vụ học tập trong đó HS được độc lập thực hiện hoặc tham gia tích cực vào tất cả các khâu từ đề xuất ý tưởng, thiết kế kế hoạch, tổ chức và đánh giá kết quả thực hiện, qua đó HS vừa chiếm lĩnh kiến thức, vừa phát triển kỹ năng, năng lực và hình thành các phẩm chất. Trong quá trình HS trải nghiệm, GV đóng vai trò như là người tạo động lực cho người học.
Các HĐTN thường được tổ chức theo một chu trình, ở giai đoạn bắt đầu, HS vận dụng kinh nghiệm vốn có của bản thân để giải quyết các vấn đề học tập và ở giai đoạn kết thúc HS có thể vận dụng kiến thức, kinh nghiệm đã học để giải quyết một các linh hoạt, chủ động, sáng tạo những vấn đề thực tiễn đời sống và xã hội. * Nội dung và hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm trong nhà trường Theo công văn chỉ đạo số 791/HD-BGDĐT, 3031/QĐ-BGDĐT, 5555/BGDĐT-GDTrH, 4325/BGDĐT-GDTrH, 1290/BGDĐT-GDTrH, Luan van 9 7291/BGDĐT-GDTrH của Bộ giáo dục và đào tạo đã chỉ ra một số định hướng nội dung và hình thức tổ chức hoạt động trong nhà trường như: - Xây dựng chương trình của nhà trường gắn với phát triển nghề nghiệp, gắn với định hướng nghề nghiệp, kĩ năng sống của HS. - Xây dựng các chủ đề dạy học liên môn với nội dung giáo dục liên quan đến các vấn đề thời sự của địa phương, đất nước để bổ sung vào kế hoạch dạy học và hoạt động giáo dục của nhà trường. - Gắn với nghiên cứu khoa học – kĩ thuật trong nhà trường.
- Gắn với văn hóa, đời sống, xã hội và đặc điểm truyền thống của địa phương, của cộng đồng. - Gắn với sản xuất, kinh doanh tiêu biểu tại địa phương, theo truyền thống gia đình. Hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm là dựa trên các phương pháp tổ chức dạy học tích cực mang tính tích hợp cả về nội dung kiến thức và phong cách học tập khác nhau của HS, trong đó HS được học tập theo sự phân hóa năng lực, sở trường, sở thích của cá nhân mình.