Chương 1: Cơ sở lý luận và thực trạng của việc tổ chức hoạt động dạy học theo hướng đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và đánh giá học sinh trong dạy số và phép tính lớp 2. Chương 2: Đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và đánh giá học sinh trong dạy số và phép tính lớp 2. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.
Năng lực, phẩm chất Theo Nguồn NGƯT. Phạm Văn Khanh, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Tâm lý – Giáo dục Việt Nam: “Phẩm chất và năng lực là hai thành phần chủ yếu tạo nên nhân cách con người”. Vì vậy, có thể xem quá trình hình thành, phát triển nhân cách luôn gắn liền với quá trình phát triển các yếu tố của phẩm chất và năng lực.Mặt khác, nhân cách được xem là một chỉnh thể thống nhất chặt chẽ giữa hai mặt phẩm chất và năng lực (đức và tài). Hai mặt của của một chỉnh thể: đức và tài không cân xứng nhau sẽ cho ra một nhân cách chưa hoàn thiện.Vì thế, trong quá trình giáo dục, dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người học là một phương pháp dạy học ưu thế nhất hướng người học tiếp cận gần hơn với phát triển nhân cách của bản thân.
Như vậy, trong giáo dục, dạy học phát triển năng lực và phẩm chất là vô cùng quan trọng và cần thiết. Theo từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê, NXB Đà Nẵng, 2005)[22]: “Phẩm chất là cái làm nên giá trị của người hay vật. Hoặc: Phẩm chất là những yếu tố đạo đức, hành vi ứng xử, niềm tin, tình cảm, giá trị cuộc sống; ý thức pháp luật của con người được hình thành sau một quá trình giáo dục”. Cũng theo từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê, NXB Đà Nẵng, 2005)[22]: “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó.
Hoặc: Năng lực là khả năng huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng để thực hiện thành công một loại công việc trong một bối cảnh nhất định”. Còn theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chương trình giáo dục phổ thông: 10 Năng lực: là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể. Năng lực cốt lõi: là năng lực cơ bản, thiết yếu mà bất kỳ ai cũng cần phải có để sống, học tập và làm việc hiệu quả: tự chủ và tự học; giao tiếp và hợp tác; giải quyết vấn đề và sáng tạo.
Năng lực đặc biệt: là năng khiếu thường chỉ có ở một số người. Phẩm chất:là những tính tốt thể hiện ở thái độ, hành vi ứng xử của con người; cùng với năng lực tạo nên nhân cách con người[2]. Phẩm chất chủ yếu: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm. Theo Thông tư 22/2016 Bộ GDĐT, dạy học hướng đến rèn năng lực và phẩn chất: Năng lực: Tự phục vụ, tự quản; giao tiếp, hợp tác; tự học, giải quyết vấn đề.
Phẩm chất: Chăm học chăm làm; tự tin, trách nhiệm; trung thực, kỉ luật; đoàn kết, yêu thương [4]. Năng lực đặc thù của môn Toán Theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chương trình giáo dục phổ thông – Định hướng về nội dung giáo dục các môn học: Giáo dục môn Toán: Giáo dục toán học hình thành và phát triển cho học sinh những phẩm chất chủ yếu, năng lực chung và năng lực toán học với các thành tố cốt lõi là: năng lực tư duy và lập luận toán học, năng lực mô hình hóa toán học, năng lực giải quyết vấn đề toán học, năng lực giao tiếp toán học, năng lực sử dụng các công cụ và phương tiện 11 học toán; phát triển kiến thức, kỹ năng then chốt và tạo cơ hội để học sinh được trải nghiệm, áp dụng toán học vào đời sống thực tiễn. Giáo dục toán học tạo dựng sự kết nối giữa các ý tưởng toán học, giữa Toán học với các môn học khác và giữa Toán học với đời sống thực tiễn [2]. Theo tài liệu của Viện Khoa học giáo dục Việt Nam “Hướng dẫn đánh giá năng lực của học sinh cuối cấp tiểu học”: năng lực làm toán được hiểu là tổ hợp kiến thức, kĩ năng, thái độ, động cơ, vận dụng toán học trong các tình huống thực tế.
Nghĩa là học sinh có khả năng chỉ ra được sự liên kết giữa các tri thức toán học và vận dụng các tri thức đó để giải quyết các vấn đề, tình huống trong cuộc sống hàng ngày. Thực chất năng lực làm toán sẽ minh họa qua các môn học khác, các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và trong đời sống thực tế. Theo Chương trình, sách giáo khoa phổ thông môn Toán (Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) ta hiểu rõ thông qua môn Toán, học sinh hình thành và phát triển được các đức tính kiên trì, kỉ luật, trung thực, hứng thú và niềm tin trong học Toán; đồng thời thông qua môn Toán hình thành và phát triển các năng lực tự chủ, tự học, giao tiếp hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh. Yêu cầu cần đạt về năng lực đặc thù Môn Toán góp phần hình thành và phát triển cho học sinh năng lực toán học (biểu hiện tập trung nhất của năng lực tính toán) bao gồm các thành phần cốt lõi sau: năng lực tư duy và lập luận toán học; năng lực mô hình hoá toán học; năng lực giải quyết vấn đề toán học; năng lực giao tiếp toán học; năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán.
Quan điểm về dạy học theo hướng phát triển năng lực Từ những năm 90 của thế kỉ XX dạy học định hướng phát triển năng lực đã được bàn đến rất nhiều và hiện nay đã trở thành xu hướng giáo dục toàn cầu. Ở Việt Nam, Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 của 12 Ban chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã đưa ra quan điểm chỉ đạo: “Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhận lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Để việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực có hiệu quả cần phải bắt đầu từ việc xác định các năng lực, phẩm chất quan trọng mà người học được phát triển, sau đó là xây dựng, phát triển nội dung, kế hoạch dạy học và đặc biệt chú ý đến các phương pháp đánh giá nhằm đảm bảo mục đích của quá trình giáo dục.
Có thể thấy, yếu tố quan trọng của giáo dục là phải xây dựng được các chuẩn đầu ra. Các chuẩn đó thể hiện được mục tiêu giáo dục và đặc biệt thiết lập được các điều kiện và cơ hội để khuyến khích HS có thể đạt được các mục tiêu ấy. Cụ thể, HS cần đạt được những năng lực, phẩm chất chung, tối thiểu (để con người có thể sống hòa đồng và phát triển trong một cộng đồng). Từ các năng lực, phẩm chất chung ấy, mỗi môn học lại xác định một số năng lực đặc thù.
Đối với môn Toán, hiện nay có bốn cách tiếp cận phát triển năng lực người học: Thứ nhất: hình thành và phát triển các năng lực then chốt mang đặc tính bộ môn: NL giải quyết vấn đề, NL mô hình hóa toán học, NL giao tiếp, NL sử dụng các công cụ, phương tiện học toán, NL tự học Toán. Thứ hai: theo đặc trưng bộ môn GV cần quan tâm đến việc hình thành phương pháp mô hình hóa toán học cho người học. Thứ ba: tăng cường tính ứng dụng của giáo dục toán học trong nhà trường. Đảm bảo một cách hài hòa giữa nội dung giáo dục toán học với xu hướng phát triển của kinh tế, khoa học và đời sống xã hội hiện tại.
Thứ tư: tập trung rèn kĩ năng sống cho học sinh bằng cách đổi mới nội dung dạy học toán. 13 Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi tập trung vào hướng tiếp cận thứ nhất: hình thành và phát triển các năng lực then chốt mang đặc tính bộ môn. Để đạt được điều đó dạy học phải mạnh dạn chuyển quá trình thuyết, giảng giải một cách khô khan, áp đặt thành quá trình tự học, tự tìm tòi, khám phá một cách thật hứng thú của học sinh. Trong mỗi giờ học, mỗi học sinh cần biết rõ mục tiêu học tập của mình một cách cụ thể phù hợp với mức độ tiếp thu của bản thân.
Đáp ứng mục tiêu trên, mỗi giáo viên đứng lớp đều phải có ý thức tổ chức tốt các hoạt động học cho học sinh: linh hoạt trong dạy học cá nhân, cặp nhóm hay toàn lớp. Trong quá trình dạy học đặc biệt chú trọng tới các hoạt động thực hành của học sinh và sự ứng dụng kiến thức bài học vào đời sống thực tế sao cho gần gũi, phù hợp. Chỉ giảng giải toàn lớp khi cần nhận xét, đánh giá chung, thống nhất các phương án, đáp án hoặc hướng dẫn hoạt động mà toàn lớp đều gặp khó khăn. Thông tư 22/2016 TT-BGDĐT, ban hành nội dung về đánh giá chất lượng học tập, giáo dục của học sinh: đánh giá được thực hiện ở tất cả các tiết học, các bộ môn theo quy định của chương trình với mục đích đánh giá sự tiến bộ của bản thân từng học sinh.
Để thực hiện tốt điều đó, giáo viên phải tăng cường quan sát hoạt động của học sinh, từ đó khuyến khích, động viên nhắc nhở kịp thời để học sinh vượt qua được khó khăn trong học tập. Đồng thời qua đây giáo viên có cơ hội điều chỉnh hoạt động dạy học của bản thân, đảm bảo chất lượng dạy học, mục tiêu các bài dạy: giúp học sinh phát triển kiến thức kĩ năng, năng lực, phẩn chất[4]. Cơ sở thực tiễn 1. Môn Toán ở Tiểu học 1.
Mục tiêu dạy học môn Toán ở Tiểu học Trong chương trình phổ thông môn Toán ở Tiểu học có vị trí vô cùng quan trọng: giúp học sinh tìm hiểu và nhận biết được các yếu tố hình học tồn tại trong không gian, trong đời sống; biết được mối quan hệ số lượng như lớn 14 hơn, bé hơn,. mối quan hệ giữa các yếu tố đại lượng thời gian, khối lượng, độ dài, diện tích hay chuyển động,.