đặt vấn đề một cách bao quát, phát triển các phương án lựa chọn, làm phong phú các khả năng và tưởng tượng các hậu quả có thể xảy ra. Tóm lại, hiểu một cách đơn giản, ST là tìm ra cái mới có giá trị được thể hiện trong ý tưởng, trong cách thức giải quyết vấn đề, trong sản phẩm và có thể diễn ra ở cấp độ cá nhân hoặc ở cấp độ xã hội, dựa trên sự độc lập trong TD và hoạt động của con người. Từ khái niệm TD và khái niệm ST đã phân tích ở trên, có thể nói TDST là kiểu TD đặc biệt, là một quá trình độc đáo, không chỉ là thao tác với những thông tin đã biết theo con đường logic hay lấy ra từ trí nhớ. Kết hợp khái niệm TD và khái niệm ST đã được phân tích ở trên, nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra những cách hiểu về TDST.
Trong cuốn sách “Khuyến khích một số hoạt động trí tuệ của HS qua môn toán ở trường THCS” của Nguyễn Bá Kim – Vương Dương Minh – Tôn Thân, các tác giả cho rằng: “TDST là một dạng TD độc lập, tạo ra ý tưởng mới độc đáo và có hiệu quả giải quyết vấn đề cao. Ý tưởng mới thể hiện ở chỗ phát hiện vấn đề mới, tìm ra hướng đi mới, tạo ra kết quả mới. Tính độc đáo của ý tưởng mới thể 14 hiện ở giải pháp lạ, hiếm, không quen thuộc hoặc duy nhất” [17]. Theo nhà tâm lý học G.
Mehlhorn: “TDST là hạt nhân của sự ST cá nhân đồng thời là hạt nhân cơ bản của giáo dục” [20]. Khi xem xét TDST theo bình diện một năng lực, J.Danton cho rằng: “TDST, đó là năng lực tìm thấy những ý nghĩa mới, tìm thấy những mối liên hệ mới, là một chức năng của kiến thức, trí tưởng tượng và sự đánh giá…” [20]. Theo tác giả Trần Hữu Trần Huy: “Nghĩ ST là nhìn một vấn đề, một câu hỏi. theo những cách khác với thông thường.
Tức là nhìn mọi thứ từ các góc độ, tầm nhìn khác nhau, "nhìn" theo những cách không bị hạn chế bởi thói quen, bởi phong tục, bởi tiêu chuẩn … theo các cách nhìn khác cho vấn đề đã đặt ra nhằm làm sáng tỏ và khẳng định lại tính chính xác của vấn đề” [14]. Như vậy, TDST thể hiện cách nhìn nhận vấn đề, sự việc, con người. theo những cách nhìn mới mẻ qua việc sử dụng kiến thức của mình và thay đổi bối cảnh mà chúng ta nghĩ về những kiến thức đó. Hay đó là việc nhìn những điều mọi người đều nhìn thấy và nghĩ ra một điều gì đó khác biệt.
Trong nghiên cứu này, TDST được hiểu là: sự huy động vốn kiến thức, kĩ năng, thái độ để tạo ra và lựa chọn ý tưởng, giải pháp, sản phẩm mới có giá trị với con người hướng tới xu thế tối ưu. Nhờ có TDST mà nhận thức của con người trở nên mới mẻ, linh hoạt, hữu ích, vượt ra khỏi lối mòn. Đặc điểm và các yếu tố của tư duy sáng tạo a) Đặc điểm của tư duy sáng tạo Đặc điểm của TDST được thể hiện ở các bình diện: thành phần của TDST; các cấp độ của TDST và những rào cản của TDST. [14] Về thành phần, TDST bao gồm 3 thành phần: Sự thông thạo kiến thức; Các thao tác TDST; Động cơ.
Sự thông thạo kiến thức là quá trình tổng hợp và chọn lựa những nguyên liệu cho TDST dựa trên các kiến thức có sẵn và những kiến thức này là nền tảng cho lối TD của mỗi người. Trước hết, chúng ta phải am hiểu những kiến thức chuyên môn trong một lĩnh vực nào đó. Cuối cùng, TDST giúp con người vận dụng kiến thức để phục vụ cuộc sống một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất. Tuy nhiên, 15 kiến thức chỉ là điều kiện cần để TDST.
Thực tế có nhiều người có kiến thức sâu sắc nhưng vẫn chưa thể đưa ra một ý tưởng ST nào. Muốn chuyển hóa những kiến thức vốn có theo hướng mới thì con người phải thực hiện một loạt các thao tác TDST. Thao tác TDST như phân tích, tổng hợp, so sánh đối chiếu, liên hệ, tương tự hóa, … được xem là những bậc thang giúp con người tiếp cận vấn đề một cách linh hoạt, đưa suy nghĩ vượt ra những TD bình thường. Việc rèn luyện các thao tác TDST đưa con người đến với những cách tiếp cận vấn đề linh hoạt hơn, mềm dẻo hơn và giàu trí tưởng tượng.
Những thao tác này chỉ được vận hành khi bản thân con người có nhu cầu tạo ra sản phẩm mới và chiếm lĩnh nó, tức là phải có động cơ TDST. Động cơ tác động lên TDST một cách có định hướng, có mục đích, thúc đẩy cường độ hoạt động TD, nuôi dưỡng tinh thần say mê, hứng khởi để không ngừng tìm ra những giải pháp ST. Về mặt cấp độ, mỗi người có sự phát triển từng thành phần của TDST khác nhau nên cấp độ TDST của họ cũng khác nhau. Theo các nhà khoa học, TDST được biểu đạt ở 5 cấp độ: - ST biểu đạt: là sự thể hiện ra bên ngoài những mối quan hệ, liên tưởng trong cuộc sống thường ngày, trong những sản phẩm lao động.
ST ở cấp độ này thể hiện trong giao tiếp như sự biểu đạt ý tưởng một cách hóm hỉnh, trong cải biến các quan hệ lao động, trong cuộc sống, các chi tiết mới trong sản phẩm. - Sáng chế: là việc tạo ra những vật dụng, dụng cụ mới chưa từng có trong tự nhiên và trong cuộc sống của con người dựa trên những kiến thức phát hiện được bằng con đường khoa học cũng như những kinh nghiệm thu nhận được trong cuộc sống. - Phát minh: là sự phát hiện ra các quy luật của sự vật hiện tượng có sẵn trong tự nhiên, xã hội và TD. Những quy luật này đang tác động, đang tồn tại nhưng con người, loài người chưa phát hiện ra trước đó.
- ST ở mức cải biến: là những thay đổi mang lại do tạo ra được những chuyển hóa, những đột phá trong khoa học, công nghệ, những thay đổi trong xã hội nhờnhững phát minh, sáng chế trong nhiều lĩnh vực hay những thay đổi trong cách 16 nhìn nhận, cách xử lý tình huống một cách tổng thể có sự tham gia của nhiều nhà khoa học, nhiều ngành, nhiều lĩnh vực công nghệ nhằm cải biến thực tiễn. - ST có thể tạo ra các lĩnh vực, ngành nghề mới. Dựa vào 5 cấp độ này, các nhà giáo dục sẽ dễ dàng đánh giá TDST của HS trong quá trình học tập của các em. Hiển nhiên, mức độ cao nhất mà một HS TH có thể đạt được là ST biểu đạt bởi TDST của các em chưa hoàn chỉnh.
Hơn nữa TDST còn có một số rào cản gây trở ngại cho hoạt động TD tìm kiếm những giải pháp, những hướng đi mới để giải quyết vấn đề đặt ra. Đó là sự thiếu hụt tính mạo hiểm và tính cởi mở trong TD cũng như không có câu hỏi hay chiến lược kích thích, gợi ý giúp thoát khỏi thông tin cũ, ý tưởng cũ đang thống trị để tạo ra con đường mới dẫn đến sản phẩm mới. Sau đây là những rào cản phổ biến: - Rào cản về văn hóa: Mỗi con người sinh ra và lớn lên trong một hoàn cảnh khác nhau nên thấm đẫm một không gian văn hóa khác nhau. Nếu cộng đồng là gia tộc thì có văn hóa gia tộc.
Ở giai đoạn tuổi thơ, trẻ em được khuyến khích TDST. Nếu con người được khuyến khích mạo hiểm, khám phá với những ý tưởng mới ngay từ khi còn nhỏ thì thói quen này sẽ trở nên bền vững suốt cuộc đời. Ngược lại, con người sẽ bị hạn chế về mặt tự do TD, nhận thức và TD bị chiếm đóng bởi những tư tưởng bảo thủ, cố hữu, khó tiếp nhận cái mới. - Rào cản về thông tin: Để có thể nhận thức thế giới, chúng ta cần phải tạo cho mình khả năng thoát khỏi vùng ảnh hưởng của thông tin, nghĩa là phải có sự quan sát và phân tích độc lập.
Thông tin không phải là những nguyên liệu thô mà thông tin cần được lọc ra thành những sự kiện nguyên bản trước khi chúng bị phóng đại. - Rào cản về nhận thức: Nguyên liệu của TD là tri thức, càng nhiều tri thức thì bộ não càng hoạt động nhiều hơn và suy nghĩ tốt hơn. Điều này cho thấy những người trình độ khác nhau thì nhận thức về vấn đề khác nhau. Sự thiếu hiểu biết cũng là một nguyên nhân làm hạn chế tính ST.
- Tính ì tâm lý: Tính ì tâm lý là hoạt động của tâm lý con người, cố gắng giữ lại những trạng thái, khuynh hướng thay đổi tâm lý đã và đang trải qua, chống lại 17 việc chuyển sang trạng thái, khuynh hướng thay đổi tâm lý mới. Tình ì tâm lý thường có hại trong ST và đổi mới. b) Các yếu tố của tư duy sáng tạo Để khắc phục những rào cản trên, trong mỗi yếu tố của TDST, cần lựa chọn những biện pháp phù hợp để kích thích các thuộc tính đó đồng đều và hiệu quả. Theo Ellis Torrance, TDST bao gồm các yếu tố sau [8]: Tính ST, độc đáo, mới mẻ (creativity): Thể hiện cách nhìn nhận về sự vật, hiện tượng, vấn đề một cách khác lạ và mới mẻ hơn so với cách nhìn nhận vốn đã quen thuộc trước đó.
Tính độc đáo thể hiện ở sự khác biệt trong việc lựa chọn thực hiện các giải pháp, các cách thứ, các ý tưởng so với cách giải quyết phổ biến thông dụng hàng ngày trong cuộc sống, công việc cá nhân hay xã hội. Tính độc đáo biểu lộ ở sự liên tưởng xa về hình thức, nội dung, không gian, thời gian, …, là những điều ít người nghĩ đến hoặc chưa ai nghĩ đến, là sự hiếm lạ duy nhất của ý tưởng đưa ra trong thời gian ngắn nhất. Tính thành thục (fluency): Thể hiện ở sự biến đổi thông tin đã thu nhận trở nên dễ dàng, nhanh chóng chuyển từ góc độ quan điểm này sang góc độ quan điểm khác, là khả năng định nghĩa lại sự vật, hiện tượng đang quan tâm theo cách hoàn toàn mới khác biệt với những khái niệm vốn đã có, gạt bỏ TD có sẵn và xây dựng phương pháp mới trong những quan hệ khác. Tính mềm dẻo (flexibility): Là sự tổ hợp và tạo ra ý tưởng mới nhanh chóng để kết hợp các yếu tố riêng lẻ của tình huống, hoàn cảnh, sự vật, hiện tượng; là khả năng nhớ nhanh, tái hiện nhanh các từ, các câu hoặc liên tưởng về các ý tưởng đã biết được lưu giữ trong bộ nhớ từ đó dễ dàng hình thành và sản sinh giả thuyết mới, ý tưởng mới.