CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VIỆC THIẾT KẾ PHIẾU HỌC TẬP NHẰM HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG SỐ LƯỢNG CHO TRẺ 5-6 TUỔI 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Trên thế giới, vấn đề sử dụng PHT trong dạy học cũng được nghiên cứu áp dụng ở tất cả các lớp học, bậc học. Newby và các cộng sự (2000) cho rằng PHT là các tài liệu học tập có thể nâng cao năng lực của HS trong việc phân tích và giải quyết vấn đề độc lập.
PHT có thể giảm thiểu sự phụ thuộc của HS vào GV và tăng nhu cầu thông tin của HS. White (2001) đã sử dụng các PHT trong các đợt tập huấn GV ở Úc: Các GV tham gia sẽ có cơ hội để làm việc với một tập hợp các PHT thích hợp để sử dụng trong lớp học. Bunyasiri và Jones (2001) đã sử dụng các PHT cho HS thực hành vẽ đồ thị hàm số bậc hai trong từng trường hợp của các hệ số a, b, c của hàm số đó. Medwetz và cộng sự (1999) đề xuất các PHT được thiết kế để hỗ trợ HS trong việc phân tích các tình hình hiện tại, xác định một dự kiến trong tương lai và sau tạo ra một kế hoạch hành động.
Dhoruri và cộng sự (2011) quan tâm tới các PHT toán học hướng vào giải quyết các vấn đề thực tiễn. Họ cho rằng cần sử dụng PHT để tăng tính độc lập học tập của HS. Do đó PHT cần phải bao gồm một số thành phần sau: (1) Quá trình học tập được bắt đầu với các vấn đề thực tế; (2) Khuyến khích tham gia tích cực của HS; (3) Kích hoạt tính năng phát triển mô hình toán học; (4) Tăng cường sự hiểu biết; (5) Phản hồi tích cực. Nói một cách ngắn gọn, PHT cần phải có một số thành phần: phần ban đầu, các vấn đề theo ngữ cảnh, một số hoạt động, kết luận và bài tập.
5 Hohenwarter và Lavicza (2007) đã đánh giá cao các PHT tương tác nhờ phần mềm hình học động GeoGebra: Nó cung cấp mạnh mẽ cơ hội cho GV để tạo ra môi trường học tập tương tác trực tuyến thông qua các PHT tương thông qua mạng Internet. Moreno- Armella, Hegedus & Kaput. (2008) đã quan tâm tới PHT Toán từ tĩnh đến động theo các quan điểm lịch sử và hiện thực. Hohenwarter và Preiner (2007) đã quan tâm đến việc sử dụng mã nguồn mở để tạo ra các PHT về sáng tạo toán.
PHT có thể sử dụng trong dạy học các tình huống điển hình trong môn Toán (hiểu theo nghĩa các tình huống dạy học phổ biến: dạy học khái niệm, dạy học định lí, dạy học giải bài tập toán học và dạy học tri thức phương pháp), trong quá trình điều hành trên lớp hay sử dụng các phương pháp dạy học tích cực bằng cách sử dụng những hình vẽ, biểu, bảng trực quan sinh động và thường yêu cầu HS ghi lại, phân tích các kết quả thu thập dữ liệu từ thực tế hoặc hoạt động trong thiết kế giáo dục tương tác.Marzno và Debra J.Pickering (2003), tổ chức dạy học theo nhóm (theo nhóm hợp tác) là một hoạt động giảng dạy hiệu quả. Thực tế nghiên cứu cho thấy rằng, học theo nhóm hợp tác có tác động tích cực tới kết quả của HS, quan hệ giữa các cá nhân và thái độ học tập. Ở mỗi buổi học, GV có thể yêu cầu HS mô tả việc học của mỗi cá nhân (dựa trên PHT), ghi lại các ví dụ về việc HS đã nhận được sự giúp đỡ từ các thành viên trong nhóm như thế nào và có thể giúp đỡ nhau tốt hơn như thế nào (Phiếu ghi chép quá trình học tập của HS dành cho GV nhằm phân hóa HS để lập kế hoạch học tập cho mỗi HS). Đây là sự bắt đầu buổi học nhóm bằng cách xem lại những gì mình đang làm tốt và những hành vi nào cần được làm tốt hơn.
Các nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, đã có một số nhà khoa học quan tâm đến PHT: Nguyễn Bá Kim (2008) đã xem PHT được sử dụng như là một PTDH trong quá trình dạy học môn Toán; Đặng Thành Hưng đã thiết kế và sử dụng PHT trong dạy học hợp tác. Trong nhiều luận án Tiến sĩ, các tác giả đã minh họa cho 6 các biện pháp sư phạm đề xuất của mình bằng việc sử dụng PHT trong dạy học môn Toán, chẳng hạn như: + Dạy học ở trường đại học, cao đẳng: Tạ Hữu Hiếu (2010) đề xuất các PHT gồm các bảng số liệu và yêu cầu sinh viên tính toán các đại lượng đặc trưng trong dạy học xác suất thống kê ở trường Đại học Thể dục thể thao; Hoàng Nam Hải (2013) đề xuất các PHT gồm các biểu đồ để sinh viên Đại học Y - Dược nhận xét, đánh giá, chỉnh sửa cho hợp lí; Lê Xuân Trường (2010) chia sinh viên Cao đẳng Sư phạm thành các nhóm thực hiện các PHT có nội dung tương tự, hỗ trợ dạy học phân hóa và sửa chữa sai lầm cho HS trong giải Toán. + Dạy học ở trường trung học phổ thông: Phạm Sỹ Nam (2013) đề xuất các PHT để HS hoạt động, tiếp cận khái niệm “hàm số liên tục”; Cao Thị Hà (2006) đề xuất các PHT để HS khám phá tri thức trong dạy học hình học không gian; Lê Võ Bình (2007) đề xuất các PHT cho HS điền kết quả hoạt động vào các phiếu giao việc; Nguyễn Tiến Trung (2013) sử dụng các PHT để HS tự đề xuất ra công thức tính khoảng cách từ một điểm đến một mặt phẳng thông qua những trường hợp cụ thể; Nguyễn Đăng Minh Phúc (2013) sử dụng PHT để HS trải nghiệm, khảo sát toán; Hoàng Lê Minh (2007) tổ chức cho HS thảo luận nhóm xét dấu tam thức bậc 2 và viết các kết luận vào bảng trong PHT; Khamkhong Sibouakhan (2010) đề xuất các PHT gồm các đề toán cho HS thực hiện theo nhóm, sau đó tổng hợp kết quả trong bảng phụ, yêu cầu HS nêu quy trình xét dấu tam thức bậc hai; Đỗ Thị Trinh (2013) đưa ra các PHT nhằm củng cố kiến thức về phương trình đường tròn, yêu cầu HS trả lời các câu hỏi trong các PHT; Nguyễn Hữu Hậu (2012) đề xuất các PHT để HS củng cố tính chất đồ thị hàm số lôgarit và các PHT hỗ trợ HS phát hiện định lí về dấu tam thức bậc hai; Nguyễn Viết Dũng (2014) đề xuất các PHT để HS phát hiện sự tương ứng, sự tương tự giữa hình học phẳng và hình học không gian lớp 11; Bùi Thị Hạnh Lâm (2009) sử dụng PHT để HS tự đánh giá kết quả học tập môn Toán ở trường THPT. 7 + Dạy học ở trường trung học cơ sở: Phí Thị Thùy Vân (2014) đề xuất các PHT để gợi hứng thú, gợi động cơ học tập cho HS từ những hình ảnh trực quan và các PHT nhằm hỗ trợ HS củng cố, vận dụng, phát triển khái niệm hoặc trải nghiệm cắt ghép hình trong dạy học toán THCS; Võ Thành Phước (2008) đề xuất các PHT để HS tiếp cận khái niệm trong dạy học Toán 6; Outhay Bannavong (2013) đề xuất các PHT để HS THCS ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào thực hành các hoạt động học tập.
+ Dạy học ở trường tiểu học, mầm non: Vũ Thị Thái (2001) đề xuất các PHT dùng cho HS lớp 3 nhận dạng, tô màu; Nguyễn Thị Kim Thoa (2007) đề xuất các PHT để HS Tiểu học thực hành nhận biết các hình; Phan Thị Tú (2013) đề xuất các PHT để HS lớp 3, 4, 5 tiểu học tiếp cận khái niệm “lớn hơn, nhỏ hơn”; Đặng Huỳnh Mai (2006) đề xuất các PHT nhằm kiểm tra, đánh giá môn Toán cho HS lớp 1; Lê Nga Sơn (2002) đề xuất các PHT củng cố kĩ năng, giải quyết vấn đề; Nguyễn Mạnh Tuấn (2013) đề xuất các PHT để trẻ mẫu giáo nhận biết các hình phẳng. [42] + Một số khóa luận, luận văn về PHT ở các môn học khác Khóa luận tốt nghiệp “Sử dụng PHT để phát huy năng lực độc lập trong dạy học bài 10, 11, 12 sinh học 9 THCS” của tác giả Trương Hồng Phúc (2005), trường Đại học Sư phạm Hà Nội. [27] Luận văn thạc sĩ “Thiết kế và sử dụng PHT trong dạy học Địa lý 12 trung học phổ thông” của tác giả Trần Thùy Uyên (2005), trường Đại học Sư phạm Huế. [42] Luận văn thạc sĩ “Thiết kế và sử dụng PHT trong dạy học phần sóng ánh sáng và lượng tử ánh sáng vật lý 12 nâng cao trung học phổ thông”, của tác giả Võ Tấn Lộc (2008), trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng.
[17] Khóa luận tốt nghiệp “Sử dụng PHT trong dạy học môn hoá học lớp 10 trung học phổ thông” của tác giả Trịnh Thị Minh Tâm (2009), trường Đại học Sư phạm TP. [33] Có thể nói, PHT đã được sự quan tâm của nhiều GV, ở tất cả các môn học, dạy ở tất cả các bậc học. Khi nghiên cứu những tài liệu kể trên, kết quả chủ yếu 8 mà tôi có được hầu hết là những PHT đã được thiết kế cụ thể phục vụ cho việc dạy học môn Toán cho các học sinh bậc Trung học. Tuy nhiên, việc sử dụng PHT như một PTDH, nhằm kích thích óc tư duy, phân tích và khả năng quan sát cũng như phát triển tính tích cực nhận thức trong việc học môn Toán nói chung và với việc cho trẻ 5-6 tuổi làm quen với biểu tượng số lượng nói riêng vẫn chưa được quan tâm đặc biệt.
Chính vì vậy, trong nghiên cứu của tôi sẽ quan tâm nhiều hơn đến việc thiết kế và sử dụng PHT trong quá trình dạy học môn Toán ở tường mầm non nhằm hình thành BTSL cho trẻ 5-6 tuổi. Một số khái niệm cơ bản 1. Phiếu học tập Phiếu: Theo nghĩa từ điển: Phiếu là tờ giấy rời có cỡ nhất định, chuyên dùng để ghi chép những nội dung cụ thể nào đó. Ví dụ: Phiếu thư viện, Phiếu điều tra…; Phiếu là tờ giấy ghi nhận một quyền lợi nào đó cho người sử dụng.
Ví dụ: Phiếu nhận tiền, phiếu khám sức khỏe; Phiếu là tờ giấy biểu thị ý kiến trong cuộc bầu cử hoặc biểu quyết, do từng cá nhân trực tiếp bỏ vào hòm (hòm phiếu). [26] Phiếu học tập: Theo một số tài liệu nước ngoài, PHT được được dùng với tên gọi “worksheet”, hay “Activity sheet”.