Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục mầm non giữ vai trò là bước khởi đầu quan trọng, hỗ trợ trẻ nhỏ từng bước hình thành nền tảng thể chất, ngôn ngữ, tình cảm - xã hội, thẩm mỹ và năng lực trí tuệ. Hoạt động "Làm quen với Toán" (LQVT) là một trong những hợp phần trọng tâm thuộc lĩnh vực giáo dục phát triển nhận thức cho trẻ 5–6 tuổi. Trong đó, việc hình thành biểu tượng số lượng (BTSL) đóng vai trò nền tảng, trực tiếp chuẩn bị tâm thế, kỹ năng nhận thức và tư duy trừu tượng sơ đẳng cho trẻ trước khi bước vào lớp 1.

Tuy nhiên, thực tiễn dạy học môn Toán tại các trường mầm non cho thấy giáo viên còn gặp nhiều trở ngại trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm duy trì sự tập trung và hứng thú của trẻ. Phần lớn hoạt động học tập hiện nay vẫn phụ thuộc vào các phương pháp truyền thống, nặng tính truyền thụ một chiều từ cô đến trẻ. Trong khi đó, phiếu học tập (PHT) – một phương tiện dạy học trực quan, hỗ trợ cá nhân hóa hoạt động học và phát triển tính tích cực nhận thức – tuy đã phổ biến ở các cấp học phổ thông nhưng vẫn còn mới mẻ ở bậc học mầm non. Đa số giáo viên mầm non chưa nắm vững quy trình thiết kế, cấu trúc sư phạm cũng như cách thức tích hợp PHT vào các hoạt động toán học một cách khoa học.

Khóa luận tốt nghiệp "Thiết kế phiếu học tập nhằm hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5–6 tuổi" được thực hiện bởi sinh viên Huỳnh Thị Khánh Dương dưới sự hướng dẫn của Th.S Nguyễn Thị Triều Tiên tại Khoa Giáo dục Mầm non, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng (hoàn thành tháng 5/2021) nhằm giải quyết vấn đề thực tiễn nói trên.

  • Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu cách thiết kế phiếu học tập nhằm hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5–6 tuổi, chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc thiết kế PHT nhằm hình thành BTSL cho trẻ 5–6 tuổi.
    2. Nghiên cứu thực trạng việc thiết kế PHT nhằm hình thành BTSL cho trẻ 5–6 tuổi.
    3. Nghiên cứu cách thức thiết kế PHT nhằm hình thành BTSL cho trẻ 5–6 tuổi.
    4. Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng tính hiệu quả, tính khả thi của cách thức thiết kế PHT đã đề xuất.
  • Đối tượng và khách thể nghiên cứu:
    • Khách thể nghiên cứu: Quá trình hình thành BTSL cho trẻ 5–6 tuổi.
    • Đối tượng nghiên cứu: Thiết kế PHT nhằm hình thành BTSL cho trẻ 5–6 tuổi.
  • Giả thuyết khoa học: Nếu thiết kế PHT một cách có hệ thống, khoa học, sáng tạo và phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ 5–6 tuổi thì sẽ giúp trẻ hình thành và củng cố các BTSL một cách có hiệu quả.
  • Phạm vi và thời gian nghiên cứu:
    • Phạm vi nội dung: Đề xuất quy trình thiết kế và xây dựng một số hệ thống PHT hình thành BTSL cho trẻ 5–6 tuổi.
    • Địa bàn khảo sát: Trường Mầm non Họa Mi và Trường Mầm non 1/6, thuộc quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Khảo sát thực trạng được thực hiện trên 40 giáo viên mầm non và 100 trẻ 5–6 tuổi (quá trình thực nghiệm đối chứng theo dõi trên 50 trẻ).
    • Thời gian nghiên cứu: Toàn bộ đề tài tiến hành từ tháng 9/2020 đến tháng 4/2021 (giai đoạn điều tra thực trạng tập trung từ tháng 10/2020 đến tháng 12/2020).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và cơ sở pháp lý

Đề tài vận dụng và tổng hợp các cơ sở lý luận giáo dục học, tâm lý học lứa tuổi và các văn bản quy phạm hiện hành:

  • Khái niệm PHT và BTSL: Tác giả hệ thống hóa các quan niệm quốc tế (Newby, Bunyasiri & Jones, Dhoruri, Hohenwarter) và các nghiên cứu trong nước (Nguyễn Bá Kim, Trịnh Văn Biều, Nguyễn Đức Thành, Nguyễn Thị Phượng). Trong đề tài, PHT mầm non được xác định là phương tiện dạy học dạng tờ rời khổ A4 (thiết kế bằng phần mềm trình chiếu PowerPoint), chứa đựng các nhiệm vụ nhận thức, câu hỏi, bài tập được lồng ghép trong các câu chuyện, tình huống hoặc trò chơi nhằm hình thành và củng cố tri thức toán học. BTSL được tiếp cận dưới góc độ tâm lý học: là hình ảnh phản ánh đặc trưng số lượng của các tập hợp còn lưu lại và tái hiện trong óc khi tập hợp không còn được tri giác trực tiếp.
  • Văn bản quy phạm chuyên ngành: Đề tài căn cứ vào Thông tư số 17/2009/TT-BGDĐT ban hành Chương trình Giáo dục Mầm non đối với lứa tuổi 5–6 tuổi (nội dung tập hợp số lượng, số thứ tự, phép đếm trong phạm vi 10, nhận biết ý nghĩa số trong đời sống) và Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi (Chuẩn 23: Chỉ số 104 - nhận biết con số phù hợp phạm vi 10; Chỉ số 105 - tách 10 đối tượng thành 2 nhóm bằng ít nhất 2 cách).
  • Đặc điểm tâm sinh lý và lý luận hoạt động: Khóa luận dựa trên Lý thuyết hoạt động của A. N. Leontiev (nhân cách và nhận thức hình thành thông qua hoạt động chủ đạo của trẻ) cùng các đặc trưng phát triển nhận thức tuổi mẫu giáo lớn: tri giác gắn liền hoạt động thực tiễn, chú ý không chủ định chiếm ưu thế (thời lượng tập trung khoảng 20–30 phút), trí nhớ trực quan - hành động chuyển dần sang logic, tư duy trực quan - hình tượng giữ vai trò chủ đạo.

Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả phối hợp các nhóm phương pháp sau:

  • Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa các tài liệu chuyên ngành tâm lý học, giáo dục học mầm non, phương pháp dạy học toán để thiết lập khung lý luận.
  • Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Xây dựng phiếu trưng cầu ý kiến gồm 3 phần, 11 câu hỏi (kết hợp câu hỏi đóng, câu hỏi mở và thang đo) gửi đến 40 giáo viên mầm non trực tiếp dạy lớp 5–6 tuổi tại quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng.
    • Phương pháp quan sát sư phạm: Dự giờ, theo dõi trực tiếp các hoạt động giáo dục tích hợp làm quen với toán nhằm quan sát cách thức tổ chức dạy học của giáo viên và phản ứng, thao tác của trẻ.
    • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Phương pháp nghiên cứu chủ đạo, tổ chức dạy học thực nghiệm có đối chứng (nhóm ĐC và nhóm TN) để kiểm định giá trị của các phiếu học tập được thiết kế.
  • Phương pháp thống kê toán học: Toàn bộ dữ liệu khảo sát và điểm đo thực nghiệm được nhập liệu, xử lý và phân tích bằng phần mềm Microsoft Excel và SPSS, áp dụng cả phân tích thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm, điểm trung bình) và thống kê suy luận (kiểm định so sánh cặp).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận việc thiết kế phiếu học tập nhằm hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5-6 tuổi

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu về PHT trên thế giới và tại Việt Nam. Các công trình ở bậc tiểu học, THCS, THPT và đại học cho thấy PHT được ứng dụng rất rộng rãi, song ở bậc mầm non, đặc biệt là mảng hình thành BTSL cho trẻ mẫu giáo lớn, các tài liệu hướng dẫn thiết kế chuyên sâu còn rất khan hiếm.

Tác giả phân tích các yếu tố tác động đến quá trình hình thành BTSL của trẻ, bao gồm: yếu tố di truyền (tiền đề vật chất thần kinh); yếu tố tâm sinh lý (tri giác, chú ý, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng, ngôn ngữ, cảm xúc thẩm mỹ); yếu tố môi trường giáo dục (gia đình, trường mầm non) và tính tích cực hoạt động của trẻ. Về mặt phương tiện, chương này xác lập cấu trúc hoàn chỉnh của một PHT mầm non (gồm phần tên phiếu/trò chơi, phần mô tả nhiệm vụ và phần nội dung bài tập qua kênh hình/chữ), đồng thời phân loại PHT mầm non thành 4 nhóm tương ứng với chương trình giáo dục. Tác giả cũng chỉ rõ các yêu cầu sư phạm cần tuân thủ khi thiết kế về mặt nội dung (bám sát mục tiêu, phân hóa độ khó, kích thích tư duy logic) và hình thức (khổ A4, hình ảnh rõ nét, màu sắc hài hòa, cỡ chữ và khoảng cách phù hợp).

Chương 2: Thực trạng của việc thiết kế phiếu học tập nhằm hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5-6 tuổi

Chương 2 trình bày kết quả khảo sát thực tế tại Trường Mầm non Họa Mi và Trường Mầm non 1/6. Kết quả khảo sát 40 giáo viên mầm non (100% đạt chuẩn đào tạo: 55% trình độ đại học, 45% cao đẳng; 35% có thâm niên trên 15 năm, 27,5% từ 10–15 năm) phản ánh sự phân hóa rõ nét giữa nhận thức lý luận và kỹ năng thực hành:

Nội dung khảo sát Tiêu chí / Phương án phản hồi Số lượng (N=40) Tỷ lệ (%)
Nhận thức về tầm quan trọng của BTSL Rất quan trọng
Quan trọng
Không quan trọng
22
18
0
55,0
45,0
0,0
Biện pháp hình thành BTSL đã thực hiện Phối hợp biện pháp trực quan, dùng lời, thực hành
Sưu tầm, dùng trò chơi dân gian, trò chơi học tập
Tạo môi trường chơi toán học phù hợp
Thiết kế và sử dụng PHT trong hoạt động LQVT
40
38
25
3
100,0
95,0
62,5
7,5
Mức độ thiết kế và sử dụng PHT Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Chưa bao giờ
0
2
38
0,0
5,0
95,0
Nguồn gốc PHT giáo viên sử dụng Tự thiết kế PHT
Ít hoặc hầu như không sử dụng
Ý kiến khác (chờ nhà trường cấp phát)
2
34
6
5,0
80,0
15,0
Nhận thức về tác dụng chính của PHT Kiểm tra mức độ tư duy về BTSL của trẻ
Tăng hứng thú trong hoạt động LQVT
Cung cấp BTSL cho trẻ
Củng cố, ôn luyện kiến thức, kỹ năng đã học
Tăng tính độc lập, tích cực cho từng trẻ
13
7
7
7
6
32,5
17,5
17,5
17,5
15,0

Dữ liệu điều tra cho thấy dù 100% giáo viên khẳng định tầm quan trọng của BTSL và 65% hiểu đúng khái niệm PHT ở mầm non, nhưng có tới 95% giáo viên chưa bao giờ thiết kế PHT. Chỉ có 5% (2 giáo viên) từng tự làm phiếu nhưng chủ yếu sử dụng Microsoft Word, tìm ảnh tự do trên Google, dùng font chữ văn bản thông thường (Times New Roman), thiếu quy trình chuẩn, hình thức đơn điệu và bài tập chưa phân hóa.

Từ thực trạng này, tác giả thiết lập hệ thống 3 tiêu chí đánh giá mức độ hình thành BTSL của trẻ qua thao tác với PHT (tổng điểm tối đa 20 điểm):

  1. Mức độ tập trung chú ý và hứng thú: 5 mức độ (từ 1 đến 5 điểm).
  2. Mức độ nắm kiến thức và kỹ năng (đếm, so sánh, tách gộp, số thứ tự): 5 mức độ (2, 4, 6, 8, 10 điểm).
  3. Thời gian và mức độ độc lập thực hiện bài tập: 5 mức độ (từ 1 đến 5 điểm). Khoảng điểm thang đo (Interval Scale): Mức cao (16–20 điểm), Tương đối cao (12–16 điểm), Trung bình (8–12 điểm), Tương đối thấp (4–8 điểm), Thấp (0–4 điểm).

Chương 3: Thiết kế phiếu học tập nhằm hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5-6 tuổi

Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp sư phạm bao gồm hệ thống nguyên tắc, quy trình kỹ thuật và các mẫu phiếu cụ thể:

  • Bốn nguyên tắc thiết kế cốt lõi:
    1. Đảm bảo tính mục đích: Bám sát yêu cầu cần đạt của Chương trình Giáo dục Mầm non đối với lứa tuổi 5–6 tuổi.
    2. Đảm bảo tính vừa sức: Phù hợp với năng lực nhận thức và khả năng phân phối chú ý của trẻ mẫu giáo lớn, sắp xếp bài tập từ dễ đến khó.
    3. Đảm bảo tính hấp dẫn: Hình ảnh nhân vật gần gũi, phối màu trực quan, kích thích tính tò mò và cảm xúc thẩm mỹ.
    4. Đảm bảo tính phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn của lớp học: Thích ứng với điều kiện vật chất và thời lượng tổ chức tiết học.
  • Quy trình thiết kế PHT: Thay vì dùng trình soạn thảo văn bản Word, tác giả đề xuất quy trình chuẩn hóa trên phần mềm PowerPoint: xác định mục tiêu bài học $\rightarrow$ xây dựng cốt truyện/tình huống $\rightarrow$ lựa chọn hệ thống hình ảnh đồ họa có độ nét cao $\rightarrow$ bố cục khung phiếu khổ A4 $\rightarrow$ rà soát yêu cầu sư phạm.
  • Hệ thống 4 nhóm PHT được thiết kế:
    • Nhóm 1: Đếm và nhận biết nhóm số lượng trong phạm vi 10 và đếm theo khả năng.
    • Nhóm 2: Tách - gộp số lượng các nhóm đối tượng trong phạm vi 10 và đếm.
    • Nhóm 3: So sánh số lượng các nhóm đối tượng và tạo sự bằng nhau.
    • Nhóm 4: Số thứ tự và nhận biết ý nghĩa của các con số trong đời sống thường ngày (số nhà, biển số xe, đồng hồ...).
  • Điều kiện thực hiện: Tác giả xác lập 4 nhóm điều kiện đảm bảo: về phía nhà trường (trang thiết bị máy in, học liệu), về phía trẻ (kỹ năng cầm bút, quan sát), về phía gia đình (tạo góc học tập, hỗ trợ trẻ làm phiếu tại nhà) và sự phối hợp đồng bộ giữa giáo viên với phụ huynh.

Chương 4: Thực nghiệm phiếu học tập nhằm hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5-6 tuổi

Chương 4 mô tả tiến trình thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá tính khả thi và hiệu quả của các PHT đã thiết kế. Nghiên cứu tiến hành đo đầu vào (trước thực nghiệm - TTN) trên hai nhóm đối chứng (ĐC) và thực nghiệm (TN) để đảm bảo tính đồng đều về năng lực nhận biết số lượng, mức độ chú ý và tính tự lập.

Sau giai đoạn can thiệp dạy học bằng hệ thống PHT mới trên nhóm TN (trong khi nhóm ĐC vẫn học theo các bài tập và trò chơi truyền thống), tác giả tiến hành đo sau thực nghiệm (STN). Dữ liệu được tổng hợp theo từng tiêu chí, từng nhóm PHT và được kiểm định thống kê toán học (bằng kiểm định $t$-test trên SPSS và Excel). Kết quả kiểm định mức độ hình thành BTSL giữa nhóm ĐC và TN sau thực nghiệm, cũng như so sánh trước - sau thực nghiệm của từng nhóm, chứng minh rằng sự tiến bộ của nhóm thực nghiệm có ý nghĩa thống kê ($p < 0,05$), khẳng định tính đúng đắn của giả thuyết khoa học đã đặt ra.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả nghiên cứu thực tiễn: Khóa luận đã phản ánh trung thực thực trạng sử dụng phương tiện dạy học toán tại hai trường mầm non thuộc địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng: 95% giáo viên chưa từng tự thiết kế PHT; 80% ít hoặc hầu như không ứng dụng công cụ này vào hoạt động LQVT, chủ yếu do thiếu kỹ năng công nghệ thông tin và áp lực công việc.
  • Đóng góp về mặt giải pháp sư phạm:
    • Xây dựng quy trình thiết kế PHT khoa học trên nền tảng phần mềm Microsoft PowerPoint khổ A4, giải quyết nhược điểm vỡ hình, lệch khung chữ và hình thức nghèo nàn của cách làm truyền thống trên Microsoft Word.
    • Thiết kế hoàn chỉnh hệ thống 4 nhóm PHT bao phủ toàn diện nội dung biểu tượng số lượng cho lứa tuổi 5–6 tuổi theo đúng Thông tư 17/2009/TT-BGDĐT.
    • Thiết lập bảng tiêu chí đánh giá gồm 3 chỉ báo định lượng (chú ý - hứng thú, kiến thức - kỹ năng toán, tính độc lập - thời gian hoàn thành) dựa trên thang đo Interval Scale, giúp lượng hóa sự tiến bộ của trẻ mầm non khi làm việc với PHT.
  • Đóng góp về mặt lý luận: Khóa luận góp phần mở rộng hướng ứng dụng của PHT – vốn trước đây chỉ được nghiên cứu sâu ở giáo dục phổ thông và đại học – vào cấp học mầm non, chứng minh tính khả thi của phương tiện này đối với việc phát triển nhận thức toán học cho trẻ giai đoạn chuyển tiếp lên tiểu học.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài:
    • Phạm vi khảo sát thực trạng và thực nghiệm chỉ giới hạn tại 2 trường mầm non công lập (Họa Mi và 1/6) trên địa bàn một quận (Liên Chiểu, TP Đà Nẵng), chưa khảo sát trên các mô hình trường ngoài công lập hay các địa bàn nông thôn, miền núi.
    • Quy mô mẫu khảo sát (40 giáo viên) và mẫu thực nghiệm còn ở mức vừa phải; thời gian theo dõi thực nghiệm diễn ra trong khung thời gian hẹp của năm học 2020–2021.
    • Định dạng PHT đề xuất chủ yếu là phiếu in trên giấy (phiếu tĩnh), chưa tích hợp sâu các dạng phiếu tương tác kỹ thuật số hoặc bài tập tương tác trên màn hình chạm.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng quy mô điều tra và thực nghiệm trên các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau nhằm tăng cường tính đại diện.
    • Phát triển hệ thống PHT tĩnh thành các PHT tương tác điện tử (sử dụng các phần mềm tương tác) phù hợp với xu hướng chuyển đổi số trong giáo dục mầm non hiện nay.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận mang lại giá trị thực tiễn và tư liệu tham khảo rõ ràng cho các nhóm đối tượng:

  • Đối với sinh viên ngành Giáo dục Mầm non: Là tài liệu tham khảo bổ ích về phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục, kỹ thuật xử lý số liệu khảo sát thực trạng bằng Excel/SPSS và cách thiết kế giáo cụ trực quan trong môn học Phương pháp cho trẻ làm quen với Toán.
  • Đối với giáo viên mầm non đang trực tiếp giảng dạy lớp 5–6 tuổi: Có thể khai thác trực tiếp quy trình thiết kế trên PowerPoint và hệ thống 4 nhóm bài tập mẫu ở Chương 3 để làm phong phú các hoạt động ôn tập, củng cố kiến thức số lượng hoặc phối hợp giao việc cho trẻ thực hiện cùng cha mẹ tại nhà.
  • Đối với cán bộ quản lý chuyên môn mầm non: Bộ tiêu chí và thang đánh giá 3 thành phần tại Chương 2 cung cấp một công cụ tham khảo đáng tin cậy để đánh giá năng lực nhận thức toán học sơ đẳng và mức độ tự lập của trẻ mẫu giáo lớn.

Câu hỏi thường gặp

1. Tác giả đề xuất sử dụng phần mềm nào để thiết kế PHT cho trẻ mầm non và quy cách trình bày ra sao?

Theo nội dung Chương 1 và Chương 3, tác giả đề xuất thiết kế PHT trên phần mềm Microsoft PowerPoint với định dạng chuẩn khổ giấy A4, thay vì dùng Microsoft Word như thói quen của một số ít giáo viên. Cấu trúc PHT bắt buộc phải gồm 3 phần: Tên phiếu (hoặc tên trò chơi/tình huống); Phần giới thiệu/mô tả nhiệm vụ cần thực hiện; Phần nội dung chính kết hợp cân đối giữa kênh hình và chữ số, có màu sắc bắt mắt và câu hỏi ngắn gọn.

2. Hệ thống PHT hình thành BTSL cho trẻ 5–6 tuổi trong đề tài được chia thành những nhóm nào?

Tác giả phân chia PHT thành 4 nhóm nội dung bám sát khung chương trình:

  • Nhóm 1: Đếm và nhận biết nhóm số lượng trong phạm vi 10 và đếm theo khả năng.
  • Nhóm 2: Tách - gộp các nhóm số lượng trong phạm vi 10 và đếm.
  • Nhóm 3: So sánh số lượng các nhóm đối tượng và tạo sự bằng nhau.
  • Nhóm 4: Số thứ tự và ý nghĩa của các con số trong cuộc sống hàng ngày.

3. Thực trạng sử dụng PHT của giáo viên mầm non tại địa bàn khảo sát có điểm gì đáng chú ý?

Số liệu khảo sát 40 giáo viên tại hai trường MN Họa Mi và MN 1/6 (quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng) cho thấy 100% giáo viên đạt chuẩn đào tạo nhưng có tới 95% giáo viên chưa bao giờ thiết kế PHT và 80% ít hoặc hầu như không sử dụng PHT trong hoạt động LQVT. Chỉ có 5% (2 giáo viên) tự làm phiếu nhưng gặp khó khăn về kỹ thuật thiết kế, chủ yếu sử dụng ảnh tải từ Google chèn vào văn bản Word, thiếu tính thẩm mỹ và tính sư phạm.

4. Thang đánh giá mức độ hình thành BTSL của trẻ trong nghiên cứu dựa trên những tiêu chí nào?

Thang đo tổng hợp gồm 3 tiêu chí với tổng điểm tối đa là 20 điểm:

  • Tiêu chí 1: Mức độ tập trung chú ý và hứng thú (5 thang điểm, tối đa 5 điểm).
  • Tiêu chí 2: Mức độ nắm kiến thức và kỹ năng về đếm, so sánh, tách gộp, số thứ tự (5 mức điểm: 2, 4, 6, 8, 10 điểm).
  • Tiêu chí 3: Thời gian và mức độ độc lập thực hiện bài tập trên phiếu (5 thang điểm, tối đa 5 điểm). Mức đánh giá chung phân theo khoảng điểm: Cao (16–20 điểm), Tương đối cao (12–16 điểm), Trung bình (8–12 điểm), Tương đối thấp (4–8 điểm), Thấp (0–4 điểm).

5. Khóa luận căn cứ vào văn bản quy phạm nào để xác định nội dung hình thành BTSL cho trẻ 5–6 tuổi?

Đề tài dựa trên Thông tư số 17/2009/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chương trình Giáo dục Mầm non (nội dung nhận biết tập hợp số lượng, số thứ tự và phép đếm trong phạm vi 10) cùng Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi ban hành kèm theo, trọng tâm là Chuẩn 23 với Chỉ số 104 (nhận biết con số phù hợp phạm vi 10) và Chỉ số 105 (tách 10 đối tượng thành 2 nhóm bằng ít nhất 2 cách).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Huỳnh Thị Khánh Dương đã giải quyết thấu đáo vấn đề ứng dụng phiếu học tập vào hoạt động làm quen với toán cho trẻ 5–6 tuổi tại trường mầm non. Thông qua việc phân tích thực trạng trên 40 giáo viên và kiểm chứng sư phạm trên trẻ mẫu giáo lớn tại quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng, nghiên cứu đã đề xuất thành công quy trình thiết kế và hệ thống 4 nhóm phiếu học tập trực quan trên PowerPoint đảm bảo các nguyên tắc sư phạm. Kết quả thực nghiệm sư phạm khẳng định việc sử dụng phiếu học tập được thiết kế đúng quy chuẩn giúp trẻ tiếp thu biểu tượng số lượng vững chắc, nâng cao sự tập trung và rèn luyện tính độc lập tư duy trước khi bước vào lớp 1.