Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu giáo dục STEM 1. Nghiên cứu giáo dục STEM trên thế giới Trên thế giới, từ STEM được triển khai và phát triển trên toàn cầu, các nhà nghiên cứu và các nhà khoa học đều đưa ra khái niệm và nhấn mạnh vai trò của GD STEM như sau: Bybee, R. Cho rằng tầm nhìn cho giáo dục STEM là vượt ra ngoài khẩu hiệu của nó trong các cuộc thảo luận khác nhau đại diện cho giáo dục đương đại.
Ông cũng thảo luận về tầm quan trọng của việc kết hợp khoa học với công nghệ và kỹ thuật trong các chương trình học, sự chú trọng của công nghệ trong giáo dục STEM và sự cần thiết phải tăng cường công nhận kỹ thuật trong giáo dục [22]. Honey M cho rằng: “Tích hợp GD STEM là một hướng nghiên cứu khá cơ bản về GD STEM, được rất nhiều nhà khoa học, tổ chức giáo dục quan tâm. Tiêu biểu là công trình của Honey. Nghiên cứu này là một kinh nghiệm rất ý nghĩa về tích hợp GD STEM trong chương trình giáo dục phổ thông hệ 12 năm của Hoa Kỳ.
Nghiên cứu đã trình bày về tổng quan những kinh nghiệm, trải nghiệm, triển khai và thiết kế tích hợp GD STEM” [24]. đã khám phá cách giáo viên làm việc trong lĩnh vực giáo dục thiết kế và công nghệ tiếp thu kiến thức mới trong STEM; cách hiểu biết được phát triển và sau đó được đưa vào thực tiễn của họ để hỗ trợ việc tạo ra một xã hội đa dạng về STEM biết chữ. Mục đích là để xác định các cơ chế mà việc tiếp thu kiến thức xảy ra, để ghi nhận lại các tác động tiềm ẩn đối với giáo dục và học tập tại nơi làm việc, bao gồm cả việc xem xét vai trò của công nghệ mới trong việc phát triển kiến thức STEM trong và trên các bộ môn STEM đóng góp. Được củng cố bởi một bản thể học diễn dịch, công việc được trình bày ở đây được xây dựng dựa trên tiền đề rằng thiết kế và công nghệ là một cấu trúc giáo dục liên ngành và không được coi là có địa vị ngang bằng với các ngành STEM khác bao gồm toán và khoa học [22].
Nghiên cứu giáo dục STEM tại Việt Nam Ở Việt Nam, các nghiên cứu về đổi mới giáo dục thông qua việc sử dụng mô hình STEM và phát triển năng lực cũng đã được nhiều nhà giáo dục, nhiều nghiên cứu sinh, học viên cao học… quan tâm nghiên cứu trong những năm qua. Một số nghiên cứu về GD STEM ở trong nước: Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai nhiều hoạt động giáo dục để hưởng đến đổi mới chương trình giáo dục phổ thông. Học sinh được tổ chức vận dụng kiến thức của các môn học khác nhau để giải quyết các tình huống thực tiễn, tăng cường khả năng vận dụng tổng hợp, khả năng tự học, tự nghiên cứu, thúc đẩy sự tham gia của gia đình, cộng đồng vào công tác giáo dục [1]. Điều đó được thể hiện qua các công trình nghiên cứu của các chuyên gia như sách và bài báo của các nhóm: Nguyen Quang Linh đã nghiên cứu về GD STEM trong nhiều chủ đề khác nhau như: Chương trình dạy học chủ đề STEM cho giáo viên, thiết kế và tổ chức dạy học, hoạt động trải nghiệm ở trường trung học và trung học phổ thông, phát triển tư duy phê phán của sinh viên thông qua chương trình định hướng GD STEM tại Việt Nam, phát triển tư duy sáng tạo của sinh viên thông qua hoạt động định hướng STEM “Tôi là kỹ sư” trong lớp học và tổ chức dạy học về môn khoa học theo định hướng GD STEM tại trường THPT; Trong các bài báo đã trình bày đề xuất quy trình thiết kế bài học STEM, quy trình tổ chức giờ học STEM, đánh giá HS trong quá trình học tập và các kết quả thu được từ thực nghiệm [21].
Lê Xuân Quang cho rằng: “Nhiều HS hiểu bài sâu sắc hơn, cảm thấy thoải mái hơn trong các giờ học bình thường, góp phần phát triển năng lực hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và năng lực sáng tạo của HS, phù hợp với định hướng của BGD&ĐT. các tiêu chí đánh giá bài học đang được thực hiện trong cả nước hiện nay" [15]. Trần Văn Tính đã nói rằng Kết quả nghiên cứu của luận án là những kết luận mới về tính sáng tạo trong trò chơi học tập. Đó là luận án hệ thống hóa được những vấn đề cơ bản về sáng tạo và tính sáng tạo của trẻ em mẫu giáo 5 - 6 tuổi.
Xây dựng được biện pháp phát triển tính sáng tạo; tiến hành nghiên cứu thực trạng tính sáng tạo và góp phần làm sáng tỏ tính sáng tạo của trẻ mẫu giáo. Thực nghiệm có đối chiếu so sánh, khẳng định được hiệu quả của các biện pháp thực nghiệm và tính khả thi trong 6 việc phát triển tính sáng tạo. Tìm hiểm được các biểu hiện đặc trưng tính sáng tạo. Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến tính sáng tạo như: Trí thông minh và cách sáng dục của cha mẹ và tìm hiểu những đặc điểm đặc trưng của nhân cách trẻ đạt điểm sáng tạo cao trong trò chơi học tập [17].
Lê Thanh Trúc Trong công trình “Tổ chức dạy học một số kiến thức chương cơ sở của nhiệt động lực học - Vật lý 10 theo định hướng GD STEM”. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng: Học sinh đã phát huy được tính tích cực và năng lực sáng tạo, phát triển năng lực giải quyết vấn đề và rèn luyện một số kỹ năng cần thiết trong cuộc sống như kỹ năng làm việc nhóm, thu thập và xử lí thông tin, thuyết trình, phản biện… góp phần tạo được hứng thú học Vật lý của HS nhờ vận dụng các kiến thức hàn lâm vào thực tiễn, trực quan sinh động hơn. Các phân tích thực nghiệm trên đã khẳng định tính khả thi của việc tổ chức dạy học chương “Cơ sở của nhiệt động lực học - Vật lý 10” theo định hướng GD STEM trong việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông [18]. Nguyễn Thành Hải, Phan Thanh Bình đã nói rằng: giáo dục STEM đòi hỏi sự thay đổi không chỉ là nội dung, tư duy từ người dạy đến người quản lý, mà cần cả một môi trường để học sinh có thể tiếp thu và phát triển tốt nhất.
Lớp học bây giờ cần bổ sung bằng các hoạt động câu lạc bộ thực tiễn, người thầy phải là những người hướng dẫn và gia đình cùng với nhà trường phải là cái nôi nuôi dưỡng óc tò mò, sự đam mê khám phá, trí tưởng tượng và phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh [4]. Nguyễn Quang Linh, Hà Trần Phương cho rằng“Giáo dục STEM trong chương trình giáo dục phố thông” kết quả nghiên cứu cho thấy rằng: GD STEM đáp ứng rất tốt dạy học theo định hướng phát triển năng lực cũng là mục tiêu mà chương trình giáo dục phổ thông mới hướng tới. Bài báo phân tích những yêu cầu của GD STEM trong chương trình giáo dục phổ thông mới thông qua việc tìm hiểu nội dung chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, chương trình các môn học đã được Bộ Giáo dục & Đào tạo ban hành tháng 12 năm 2018 và các văn bản có liên quan. Thông qua kết quả quá trình đào tạo cử nhân Sư phạm tại trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên trong những năm gần đây để thấy được những cơ hội cũng như những khó khăn có thể gặp khi triển khai giáo dục STEM vào thực tế.
Từ đó, có những kiến nghị, đề xuất khi 7 triển khai giáo dục STEM trong chương trình giáo dục phổ thông mới trong đó nhấn mạnh yếu tố tổ chức đồng bộ và quyết tâm của ngành giáo dục [8]. Nguyễn Quang Linh trong công trình “Tổ chức dạy học bài tác dụng từ, tác dụng hóa học và tác dụng sinh lý của dòng điện” vật lý 7 theo định hướng GD STEM” Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng: tăng hứng thú học tập của hocj sinh, giúp hocj sinh giải quyết các vấn đề gắn với thực tiễn, đánh giá sự tiến bộ của nhóm theo một quá trình thay vì những bài thi quyết định kết quả học tập của một cá nhân, giảm áp lực học tập,. và có thể sử dụng quy trình thiết kế kĩ thuật kết hợp với tiến trình dạy học nêu và giải quyết vấn đề để đưa yếu tố STEM vào quá trình dạy học bài lớp truyền thống [6]. Nguyễn Quang Linh, Dương Thị Thu Hương cho rằng “Bổi dưỡng năng lực thiết kế và tổ chức hoạt động trải nghiệm cho sinh viên sư phạm vật lí theo mô hình GD STEM Trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông” Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng: có thể bồi dưỡng năng lực Thiết kế và tổ chức hoạt động trải nghiệm cho sinh viên sư phạm Vật lý theo 7 bước: (1) Thống nhất mục đích nghiên cứu với sinh viên, (2) Nghiên cứu lí luận về dạy học theo phương thức giáo dục STEM, hoạt động TN, (3) Xây dựng chủ đề trải nghiệm theo phương định hướng giáo dục STEM, (4) Thảo luận, tư vấn, (5) Thực nghiệm trên đối tượng học sinh thực, (6) Phân tích kết quả thực nghiệm, điều chỉnh chủ đề đã thiết kế, (7) Điều chỉnh quy trình dạy/ bồi dưỡng và năng lực này của các học viên đạt được ở mức độ khá, giỏi chiếm tỷ lệ cao (77%) [7].
Nguyễn Anh Tuấn đã nói rằng“Thết kế chế tạo các thi nghiệm đơn giản đề sư dụng trong dạy học khoa học tự nhiên lớp 6 theo định hướng GD STEM” Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng: Dạy học theo định hướng giáo dục STEM giúp học sinh có được các kỹ năng, năng lực, kỹ thuật, hiểu được quy trình từ đó có khả năng sản xuất ra đối tượng. Học sinh được trang bị khả năng phân tích, tổng hợp, kết hợp để biết cách làm thế nào cân bằng các yếu tố liên quan như khoa học, nghệ thuật, công nghệ, kỹ thuật nhằm có được một giải pháp tốt nhất trong thiết kế và xây dựng quy trình. Ngoài ra, học sinh còn có khả năng nhận ra nhu cầu và phản ứng của xã hội trong những vấn đề liên quan đến kỹ thuật và nghề nghiệp trong tương lai [20]. 8 Thái Quốc Bảo, Nguyễn Mậu Đức về Thiết kế, chế tạo “máy nhiệt điện Mini”, hỗ trợ hoạt động dạy học theo định hướng STEM ở trường phổ thông.
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng: Trong công trình này, nhóm tác giả nghiên cứu, chế tạo mô hình “máy nhiệt điện mini” từ những vật liệu dễ kiếm, thân thiện với môi trường nhằm hỗ trợ hoạt động dạy học theo định hướng STEM ở trường phổ thông.