Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ NHẰM GIÁO DỤC ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP 1. Hoạt động trải nghiệm trong chương trình giáo dục phổ thông mới Trong thực tế dạy học hiện nay ở các trường phổ thông trong cả nước ta, phương pháp dạy học truyền thống vẫn đang chiếm lĩnh. Ở mỗi tiết học, GV với vai trò là chủ thể của lớp, sách giáo khoa là sự quan tâm chính của GV, kiến thức bài học là đối tượng quan tâm của GV trong khi đó HS chỉ là phương tiện để xây dựng kiến thức bài học, những câu hỏi GV đặt ra, HS phải trả lời theo gợi ý của GV, những hoạt động của HS không được sự chủ động mà luôn phải theo sự điều phối, cho phép của GV, HS chấp nhận các kiến thức mới bằng con đường thông báo của GV, phải học thuộc nó một cách gượng ép.
Chính vì vậy, HS thiếu đi mất khả năng ứng dụng kiến thức đó vào cuộc sống, làm cho HS cảm thấy việc học trở nên nhàm chán, kiến thức tiếp thu một cách nặng nề hơn. Trong bối cảnh đó, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa XI) đã thông qua Nghị quyết 88/2014/QH13 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo với mục tiêu: “Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng nề về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hòa đức, trí, thể, mỹ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2017a). Để thực hiện mục tiêu đó, cần tổ chức các hoạt động giáo dục theo hướng tăng cường sự trải nghiệm, nhằm phát huy tính sáng tạo cho học sinh, tạo ra các môi trường khác nhau để HS được trải nghiệm nhiều nhất, đồng thời là sự khởi nguồn sáng tạo, biến những ý tưởng sáng tạo của HS thành hiện thực để các em thể hiện hết khả năng sáng tạo của mình (Bùi Ngọc Diệp, 2015). Theo chương trình GDPT – chương trình tổng thể, hoạt động giáo dục chính là hoạt động HS được trực tiếp thực hiện trong hoặc ngoài nhà trường có sự hướng dẫn của GV hay nhà giáo dục và hoạt động trải nghiệm là một bộ phận của chương trình giáo dục phổ thông mới.
Hoạt động trải nghiệm được Luan van 7 đưa vào tất cả các lớp học, các môn học. Bằng hoạt động trải nghiệm của bản thân, mỗi HS vừa là người tham gia, vừa là người kiến thiết và tổ chức các hoạt động cho chính mình trong một môi trường học tập được gắn liền giữa trong nhà trường và ngoài nhà trường, giữa thực tiễn và cuộc sống của mình. Thông qua hoạt động trải nghiệm, nội dung giáo dục không còn bị bó hẹp trong sách vở mà nó được gắn liền với thực tiễn đời sống; gắn lí thuyết với thực hành, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức với hành động, góp phần phát triển phẩm chất, tư tưởng, ý chí, tình cảm, giá trị, kĩ năng sống, niềm tin đúng đắn ở HS, hình thành những năng lực cần có của con người trong xã hội hiện đại như: Năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, …(Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Thị Hằng, Tưởng Duy Hải, Đào Ngọc Thịnh, 2017). Cơ sở lí luận tổ chức hoạt động trải nghiệm trong nhà trường phổ thông Hoạt động trải nghiệm trong nhà trường cần được hiểu là hoạt động có động cơ, có đối tượng để chiếm lĩnh, được tổ chức bằng các việc làm cụ thể của học sinh, được thực hiện trong thực tế, được sự định hướng, hướng dẫn của nhà trường.
Đối tượng để trải nghiệm nằm trong thực tiễn. Qua trải nghiệm thực tiễn, người học có được kiến thức, kĩ năng, tình cảm và ý chí nhất định. Sự sáng tạo sẽ có được khi phải giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn phải vận dụng kiến thức, kĩ năng đã có để giải quyết vấn đề, ứng dụng trong tình huống mới, không theo chuẩn đã có1,… 1. Mô hình hoạt động học tập trải nghiệm Hoạt động học tập trải nghiệm là quá trình người học tham gia vào xây dựng kiến thức, hình thành kĩ năng, năng lực qua các thao tác, hoạt động, hành động của cá nhân với môi trường xã hội, môi trường sống, môi trường tự nhiên bằng sự nhận thức và cảm xúc của chính mình.
Hoạt động này dựa trên sự dịch chuyển kinh nghiệm sống của bản thân thành các kiến thức của cá nhân (Tưởng Duy Hải et al. Trên thực tế, tư tưởng giáo dục về học qua thực hành, trải nghiệm thực tiễn, chuyển kinh nghiệm thành kiến thức đã manh nha xuất hiện từ thời cổ đại, trong các 1.vn/hoat-dong-chuyen-mon/tai-lieu-tap-huan- trai-nghiem-sang-tao.html Luan van 8 quan điểm giáo dục của các triết gia phương Đông và phương Tây, tiêu biểu như: “Quan điểm về phương pháp giáo dục coi trọng thực hành, vận dụng” của Khổng Tử (551 – 479 TCN); “Quan điểm về dạy học phải đảm bảo mối liên hệ với đời sống, giáo dục thông qua trò chơi, hoạt động ngoài lớp, ngoài thiên nhiên” của J.A Cô-men-xki; Học thuyết giáo dục của Mác – Ănghen và Le-nin về “Giáo dục kỹ thuật tổng hợp và giáo dục kết hợp với lao động sản xuất” trên cơ sở phát triển đề cương về giáo dục kỹ thuật tổng hợp của Crupxcaia; … Ngoài ra, có thể nhắc tới những mô hình học tập trải nghiệm cổ điển tiêu biểu nửa đầu thế kỉ XIX: Mô hình học tập trải nghiệm của Kurt Lewin về nghiên cứu hành động và đào tạo trong phòng thí nghiệm, mô hình học từ kinh nghiệm của John Dewey. Đây được coi như cơ sở khoa học nền tảng của việc phát triển lý thuyết học tập trải nghiệm của D.Kolb sau này (Nguyễn Thị Liên, et al.Dewey (1859 – 1952), ông quan điểm “học qua làm, học bắt đầu từ làm”, điều đó cho thấy rằng sự học chỉ có nghĩa khi người học huy động các kinh nghiệm cụ thể của bản thân một cách tích cực và có suy nghĩ đến những kinh nghiệm này đối với mục tiêu muốn đạt được qua các hành động cụ thể (Nguyễn Thị Liên, et al., 2017 & Tưởng Duy Hải, et al.Lewin (1890 – 1947), ông đã đưa ra mô hình học tập trải nghiệm có sự tương đồng với J.Dewey, học tập bắt đầu với kinh nghiệm, thông qua đó người học có thể thu thập dữ liệu, quan sát và phản ánh kinh nghiệm đó sau đó được phân tích, khái quát để hình thành các khái niệm, và cuối cùng là thử nghiệm các ý nghĩa của khái niệm trong tình huống mới.Kolb, năm 1971, ông đã đưa ra lý thuyết “Học tập trải nghiệm”. Theo lý thuyết này, học tập là một quá trình mà ở đó tri thức được tạo ra thông qua sự biến đổi, chuyển hóa kinh nghiệm, tức là hoạt động học tập trải nghiệm dựa trên hai tương tác giữa kiến thức và sự trải nghiệm, đó là kiến thức được rút ra từ chính nguồn gốc của sự trải nghiệm của người học và giá trị, ý nghĩa của kiến thức lại được xác nhận qua sự trải nghiệm mới của người học.
Quá trình này tạo thành một vòng lặp giữa kiến thức và sự trải nghiệm. Luan van 9 Đóng góp của D.Kolb là đưa ra chu kì học tập của người học gồm bốn giai đoạn khác nhau được minh họa ở hình 1.1, trong đó: Giai đoạn 1: Kinh nghiệm rời rạc (Concrete Experience – CE), là giai đoạn học tập nhờ vào việc người học tiến hành các hành động trên đối tượng, từ đó sẽ tạo ra cho người học các kinh nghiệm nhất định mà con người có thể cảm nhận được. Giai đoạn 2: Quan sát có suy tưởng/phản ánh (Reflective Observation – RO), là giai đoạn học tập mà người học dựa trên việc phân tích, đánh giá và phản ánh kĩ lưỡng các sự kiện và các kinh nghiệm đã có. Đây là điểm cốt lõi trong lí thuyết học tập trải nghiệm của D.
Giai đoạn 3: Khái quát hóa, là giai đoạn học tập nhờ vào tư duy. Từ việc quan sát chi tiết (phân tích) và suy tưởng sâu sắc, người học tiến hành khái niệm hóa các kinh nghiệm đã cảm nhận đó để tìm ra ý tưởng hoặc lí thuyết mới. Giai đoạn 4: Thử nghiệm tích cực (Active Experimentation – AE), là giai đoạn học tập đưa những khái niệm đã hình thành ở giai đoạn trên vào thực tiễn để kiểm nghiệm nhằm hình thành nên tri thức riêng theo cách riêng của bản thân. Giai đoạn này để người học xác nhận hay phủ nhận các khái niệm đã được hình thành trước đó.
Tuy nhiên cũng có một số ý kiến cho rằng, trong quá trình trải nghiệm, các giai đoạn trong chu trình thực tế cũng không xuất hiện một cách lần lượt giống như chu trình của D.Kolb mà tùy thuộc vào từng cá nhân mà tiến trình học tập trải nghiệm của người học có thể nhảy cóc từ giai đoạn này qua giai đoạn khác. Kinh nghiệm rời rạc Quan sát có suy Thử nghiệm tích cực tưởng/phản ánh Khái niệm hóa Hình 1. Mô hình học tập trải nghiệm (D.Kolb, 1984) (Nguồn: Nguyễn Thị Liên, et al., 2017) Luan van 10 Mô hình học tập trải nghiệm của D.Kolb được thể hiện cụ thể thông qua chu trình học tập trải nghiệm. Học tập trải nghiệm là sự hình thành các kinh nghiệm mới bằng sự tương tác giữa kinh nghiệm đã có với những với những hiểu biết rời rạc thu được ở hiện tại, nhờ sự phản ánh của chủ thể trong hành động, theo một chu trình khép kín.
Chu trình học tập trải nghiệm được thể hiện trên hình 1.2, gồm 2 trục: Trục hoành thể hiện phương pháp học – người học chế biến thông tin thông qua quan sát phản chiếu hoặc thử nghiệm tích cực; trục tung thể hiện nhận thức, để chỉ phản ứng có tính cảm nhận của người học trong qúa trình học, người học thích học bằng cách tư duy hay cảm nhận (Tưởng Duy Hải, et al. KINH NGHIỆM CỤ THỂ Cảm nhận THÍCH ỨNG PHÂN KỲ (Cụ thể, tích Kinh nghiệm (Cụ thể, phản QUAN SÁT, PHẢN CHIẾU cực) chiếu) THỬ NGHIỆM TÍCH CỰC Chế biến Kinh nghiệm Xem, nhìn Làm Nhận thức HỘI TỤ ĐỒNG HÓA (Trừu tượng, (Trừu tượng, phản chiếu) tích cực) KINH NGHIỆM TRỪU TƯỢNG Tư duy Hình 1. Chu trình học tập trải nghiệm (Nguồn: Nguyễn Thị Liên, et al., 2017) Luan van 11 Nhận xét: Từ việc phân tích mô hình học tập trải nghiệm theo D.