đặt vấn đề và chú trọng đến việc bồi dưỡng năng lực dạy học cho GV. Song các nghiên cứu trước đây cũng cho thấy trong việc bồi dưỡng các năng lực dạy học còn có nhiều vấn đề cụ thể chưa được giải quyết. Tuy vậy, nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước đã cung cấp nhiều kinh nghiệm quí báu về bồi dưỡng và QL bồi dưỡng năng lực dạy học. Những kết quả nghiên cứu này được coi là cơ sở khoa học cho việc thực hiện đề tài của luận văn.
Các công trình nghiên cứu về GV và quản lý bồi dưỡng GV đều khẳng định GV có vai trò rất quan trọng trong giáo dục. Chất lượng giáo dục phụ thuộc quyết định vào chất lượng đội ngũ GV. Quản lý bồi dưỡng GV cũng được Chính phủ các nước quan tâm và đã có những chương trình, chính sách bồi dưỡng GV cụ thể. Tuy nhiên, vấn đề quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học của GV, đặc biệt năng lực dạy học đáp ứng yêu cầu chương trình phổ thông mới thì chưa có nhiều.
Đó là căn cứ để nghiên cứu đề tài này với hy vọng góp tiếng nói nhỏ bé nhằm nâng cao chất lượng quản lý dạy học của hiệu trưởng các trường trung học cơ sở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Một số khái niệm cơ bản 1. Năng lực và năng lực dạy học 1. Năng lực Năng lực là khái niệm biểu đạt khả năng và mức độ hoàn thành một hoạt động hoặc một nhóm hoạt động có mục đích của một cá nhân hoặc một tổ chức với thời gian nhất định trong một môi trường biến đổi.
Nói đến năng lực là nói đến khả năng thực hiện và mức độ hiệu quả của một hoạt động do một cá nhân hoặc một tổ chức thực thi nhiệm vụ và quyền hạn được giao phó trong một môi trường. Khi đánh giá một người nào đó có năng lực, tức là đã thừa nhận người đó thường xuyên đạt được kết quả cao trong lĩnh vực hoạt động đã được xác định. Có thể nói: Năng lực là những nét độc đáo, nét riêng biệt của từng người, nó khác nhau giữa người này và người khác ở mức độ và các lĩnh vực khác của hoạt động. 10 Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy [33,tr12].
Năng lực là những thuộc tính tâm lý mà nhờ chúng, con người tiếp thu tương đối dễ dàng những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và tiến hành một hoạt động nào đó một cách có hiệu quả [53,tr76]. Như vậy, năng lực là khả năng hoàn thành có kết quả một công việc nào đó. Về thực chất, đó là sự phù hợp một bên là yêu cầu công việc và một bên khác là những phẩm chất tâm lý của cá nhân. Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng khái niệm năng lực theo cách giải thích thuật ngữ trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo): Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,.
thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể [4,tr37]. Năng lực dạy học Năng lực dạy học được biểu hiện ở việc nắm vững, lựa chọn và tổ chức sắp xếp các tri thức; nắm vững đối tượng giảng dạy; khả năng sử dụng ngôn ngữ và khả năng diễn đạt ý tưởng, linh hoạt sử dụng các phương tiện dạy học; tổ chức quản lý, điều khiển HS trong giờ học; lôi cuốn, thuyết phục HS trong các hoạt động học tập; biết ứng xử nhanh các tình huống có vấn đề trong lớp học, trong giờ học; biết cách hướng dẫn có hiệu quả việc dạy các đối tượng cá biệt.Như vậy, NLDH là nhóm các năng lực thuộc năng lực sư phạm trong cấu trúc nhân cách của người GV [37, tr. Thành phần tạo nên năng lực là tri thức, khả năng, kĩ xảo và thái độ. Theo cấu trúc chung, năng lực dạy học là tổ hợp của nhiều năng lực cụ thể như năng lực hiểu HS qua quá trình dạy học; tri thức và tầm hiểu biết của người GV năng lực xử lí tài liệu học tập và năng lực nắm vững kĩ thuật dạy học.
NLDH là khả năng thực hiện các hoạt động dạy học đạt kết quả và chất lượng cao của người GV bao gồm: - Tri thức và tầm hiểu biết của người GV Đây là một yếu tố cơ bản của năng lực dạy học, một trong những năng lực cốt lõi của nghề dạy học. GV phải là người nắm vững kiến thức chuyên môn, trước hết, đó 11 Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục là sự am hiểu kiến thức chuyên môn mình dạy; có năng lực nghiên cứu, tự học, tự bồi dưỡng. Cùng với kiến thức về chuyên môn, GV cần phải có kiến thức về các môn học khác và am hiểu về các lĩnh vực trong đời sống xã hội. - Năng lực hiểu HS trong quá trình dạy học Đây là năng lực cơ bản của GV trong quá trình dạy học, nó được xem là chỉ số cơ bản của năng lực sư phạm.
Đó là năng lực thâm nhập vào thế giới bên trong của HS sự hiểu biết tường tận nhân cách của chúng, cũng như năng lực quan sát tinh tế những biểu hiện tâm lí của học sinh trong quá trình dạy học [48, tr.Gonobolin cho rằng: “GV giỏi là người hiểu trình độ tri thức hơn là bản thân các em tự hiểu về mình”. Biểu hiện trước hết của năng lực hiểu HS là ở chỗ, GV biết xác định được khối lượng kiến thức đã có ở mức độ, phạm vi lĩnh hội của nó và từ đó xác định mức độ và khối lượng kiến thức mới cần trình bày trong công tác dạy học. - Năng lực xử lí tài liệu học tập Căn cứ vào trình độ nhận thức của HS, muốn giúp HS nắm được tài liệu học tập đòi hỏi người thầy giáo phải biết đánh giá đúng đắn tài liệu dùng để dạy cho HS. Để đạt được yêu cầu đó, trước hết đòi hỏi người GV cần biết lựa chọn và đánh giá đúng tài liệu học tập, xác lập được mối quan hệ giữa kiến thức chung của môn học và trình độ nhận thức của HS, nhằm đảm bảo yêu cầu của những kiến thức đó phù hợp với đặc điểm cá nhân, trình độ kinh nghiệm của HS làm cho tài liệu đó trở nên dễ dàng tiếp thu đối với HS.
Trong công tác dạy học, người GV không phải làm việc chuyển tài liệu từ sách giáo khoa đến người học, mà chủ yếu truyền được sức sống của kiến thức làm cho kiến thức đó trở nên có ý nghĩa sâu sắc đối với cuộc sống của họ. Vì vậy, người GV ngoài việc nắm được logic phát triển của tri thức; hiểu thấu đáo, chính xác tài liệu, còn phải biết chế biến, nhào nặn, biết bổ sung tài liệu đó bằng những điều lấy từ sách vở và những điều quan sát được trong cuộc sống để trình bày theo cách hiểu của mình, nhờ đó HS dễ hiểu, dễ nhớ. Muốn làm được điều đó, trước hết, người GV phải có khả năng phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa kiến thức; hai là người GV phải có óc sáng tạo [30, tr. - Năng lực vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học Nắm vững kỹ thuật dạy học là nắm vững cách tổ chức và điều khiển hoạt động nhận thức của HS qua bài giảng được thể hiện ở các mặt như: tạo được cho HS ở vị trí người phát hiện kiến thức trong quá trình học tập; truyền đạt tài liệu rõ ràng, dễ hiểu và làm cho nó trở nên vừa sức với HS, biết gây được hứng thú và kích thích HS suy nghĩ tích cực, độc lập; luôn tạo ra tâm thế có lợi cho sự lĩnh hội, học tập bằng sự động viên, khêu 12 Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục gợi được sự chú ý HS; có khả năng sử dụng ngôn ngữ và khả năng diễn đạt ý tưởng đồng thời biết ứng xử nhanh các tình huống có vấn đề trong lớp học, trong giờ học.
Bồi dưỡng năng lực dạy học Bồi dưỡng thực chất là bổ sung, “bồi đắp” những thiếu hụt về tri thức, cập nhật cái mới trên cơ sở “nuôi dưỡng” những cái cũ còn phù hợp để mở mang có hệ thống những tri thức kỹ năng, nghiệp vụ, làm giàu vốn hiểu biết, nâng cao hiệu quả lao động. Theo UNESCO: “Bồi dưỡng với ý nghĩa là nâng cao nghề nghiệp. Quá trình này diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hoặc kĩ năng chuyên môn nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp”. Theo từ điển tiếng Việt thì “Bồi dưỡng là làm tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất” [43, tr.
Qua các quan niệm trên ta thấy: Bồi dưỡng thực chất là quá trình bổ sung kiến thức, kĩ năng để nâng cao trình độ trong lĩnh vực hoạt động chuyên môn nào đó qua hình thức đào tạo nào đó. Mục đích của quá trình bồi dưỡng là nhằm củng cố, nâng cao phẩm chất và năng lực chuyên môn nghiệp vụ sẵn có như tri thức, kĩ năng, kĩ xảo nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc đang làm. Quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học cho GV Trong quá trình QL nhà trường của HT, việc QL hoạt động bồi dưỡng NLDH cho ĐNGV là nội dung quan trọng không thể thiếu. Quản lý bồi dưỡng NLDH cho GV là một quá trình từ xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và thực hiện theo kế hoạch cho đến theo dõi, đánh giá kết quả thực hiện các nội dung kế hoạch bồi dưỡng gắn trách nhiệm của từng tổ chức và cá nhân trong hoạt động bồi dưỡng.
Một số nguyên tắc các cán bộ quản lý giáo dục cần tuân thủ khi tiến hành chỉ đạo, tổ chức các hoạt động bồi dưỡng cho GV đó là: Tất cả GV của nhà trường đều được học tập, bồi dưỡng để nâng cao trình độ về mọi mặt để đáp ứng với yêu cầu ngày càng cao của giáo dục trong thời đại mới. Đào tạo và bồi dưỡng nâng cao trình độ mọi mặt cho GV là việc làm thường xuyên, liên tục. Kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo và bồi dưỡng theo yêu cầu của Chuẩn nghề nghiệp.