Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC DẠY HỌC CHO GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐÁP ỨNG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Năng lực dạy học của giáo viên có vai trò đặc biệt quan trọng đến chất lượng giáo dục, thương hiệu và sự thành công của một trường học nói riêng và là sự nghiệp giáo dục của một huyện nói chung. Hầu hết các Quốc gia trên Thế giới đều coi trọng giáo dục, vấn đề giáo viên và hoạt động bồi dưỡng giáo viên để luôn đáp ứng được với những đòi hỏi liên tục mà xã hội đặt ra cho giáo dục. Việc tạo mọi điều kiện để mọi người có cơ hội học tập, học tập thường xuyên, học tập suốt đời để kịp thời bổ sung kiến thức và đổi mới phương pháp dạy học để phù hợp với sự phát triển KT - XH là phương châm hành động của các cấp quản lí giáo dục không chỉ ở Việt Nam mà hầu hết các quốc gia đều quan tâm.
Ở nước ngoài Henri Fayol (1841-1925) người Pháp đã có công trình "Tổng quát về quản lý hành chính" xuất bản năm 1916. Công hiến lớn nhất của ông là đưa ra 5 chức năng cơ bản của quản lý, 16 quy tắc về chức trách quản lý, 14 nguyên tắc quản lý hành chính. Theo ông người quản lý nếu có đủ năng lực tư duy và năng lực thực tiễn kết hợp nhuần nhuyễn các chức năng, các quy tắc, các nguyên tắc quản lý thì chất lượng và hiệu quả hoạt động của tổ chức được nâng cao. Vào giữa thế kỷ XVIII, các nhà khoa học Robert Owen (1771-1858), Andrew Ure (1778-1875) đưa ra ý tưởng muốn tăng năng xuất lao động cần tập trung giải quyết một số yếu tố chủ yếu là tạo ra phúc lợi công cộng, tìm giải pháp giám sát công nhân, quan tâm đến mối quan hệ giữa người quản lý với người bị quản lý và nâng cao trình độ quản lý cho các nhà quản lý.
Tiếp đó Frederick Win slow Taylor (1856- 1915) với công trình tiêu biểu là cuốn: "Những nguyên tắc quản lý khoa học" xuất bản năm 1911, ông quan niệm: "Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất". Giáo dục thế kỷ XXI diễn ra trong bối cảnh thế giới có những biến đổi sây sắc. Nền kinh tế thế giới chuyển tự kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức, nền văn minh loài người chuyển từ văn minh công nghiệp sang văn minh trí tuệ. Toàn cầu hóa 7 kinh tế là một xu thế khách quan lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia, đặt ra cho các nhà trường, đặc biệt là năng lực dạy học của giáo viên, người trực tiếp quyết định chất lượng giáo dục của nhà trường.
Đại đa số các trường sư phạm ở Úc, New Zeland, Canada,. đã thành lập các cơ sở chuyên bồi dưỡng giáo viên để tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên tham gia học tập nhằm không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ [ dẫn theo 44]. Tại Nhật Bản, việc bồi dưỡng và đào tạo lại cho ĐNGV, cán bộ quản lí giáo dục là nhiệm vụ bắt buộc đối với người lao động sư phạm.Tùy theo thực tế của từng đơn vị, từng cá nhân mà cấp quản lí giáo dục đề ra các phương thức bồi dưỡng khác nhau trong một phạm vi theo yêu cầu nhất định. Cụ thể là mỗi cơ sở giáo dục từ 3 đến 5 giáo viên được đào tạo lại một lần theo chuyên môn mới và tập trung nhiều vào đổi mới PPDH.
Tại Thái Lan, từ năm 1998 việc bồi dưỡng giáo viên được tiến hành ở các trung tâm học tập cộng đồng nhằm thực hiện giáo dục cơ bản, huấn luyện kỹ năng nghề nghiệp và thông tin tư vấn cho mọi người dân trong xã hội. Tại Liên Xô (cũ), các nhà nghiên cứu quản lí giáo dục như: M. đã rất quan tâm đến việc nâng cao chất lượng dạy học thông qua các biện pháp quản lí có hiệu quả. Muốn nâng cao chất lượng dạy học phải có đội ngũ giáo viên có năng lực chuyên môn.
Họ cho rằng kết quả toàn bộ hoạt động của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lí công tác quản lí bồi dưỡng ĐNGV. Như vậy công tác bồi dưỡng giáo viên được các nước trên thế giới coi là một nhiệm vụ tất yếu và rất quan trọng. Mặc dù nội dung, hình thức tổ chức và phương pháp bồi dưỡng có khác nhau song đều đi đến mục tiêu nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, hướng đến sự thành công cho các nhà trường, góp phần phát triển bền vững ở mỗi quốc gia. Ở trong nước Ở Việt Nam, nghiên cứu quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục là một trong những xu hướng của đổi mới quản lý giáo dục hiện nay.
Bộ GD&ĐT đã ban hành Thông tư 17/2019/TT-BGDĐT ngày 01/11/2019 về Ban hành chương trình bồi dưỡng thường xuyên giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông; Thông tư 19/2019/TT-BGDĐT ngày 12/11/2019 về Ban hành Quy chế bồi dưỡng thường xuyên giáo viên, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông và giáo viên trung tâm giáo dục thường xuyên. Theo xu hướng này, yêu cầu đáp ứng đổi mới, chuẩn hóa, chuyên nghiệp hóa ĐNGV là một đòi hỏi 8 tất yếu trong quản lý ĐNGV cả ở bình diện vĩ mô và vi mô. Xuất phát từ nhận thức về vai trò của GV và tính chất chuyên nghiệp trong lao động nghề nghiệp của GV nên các nghiên cứu về vấn đề phát triển nghề nghiệp của GV tương đối phong phú. Nhiều đánh giá thiết thực về công việc của GV và đề cao kỹ năng giảng dạy như một lĩnh vực chuyên nghiệp cần được đào tạo, huấn luyện đã được khẳng định.
Có thể nói, các công trình nghiên cứu về quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên tương đối phong phú. Nhiều hội thảo khoa học về quản lý ĐNGV dưới góc độ QLGD theo ngành, bậc học đã được thực hiện. Nhiều kết quả, nhiều công trình nghiên cứu đã và đang được ứng dụng trong các nhà trường. Những năm gần đây, nhiều luận văn tốt nghiệp thạc sĩ đã chọn đề tài nghiên cứu thuộc lĩnh vực quản lý nguồn nhân lực trong giáo dục, trong đó có vấn đề quản lý ĐNGV.
Các tác giả nghiên cứu về vấn đề quản lý ĐNGV theo bậc học và ngành học, vùng miền và địa phương khác nhau. Có thể kể đến mộ số công trình nghiên cứu như: đề tài Luận văn của tác giả Diệp Thị Thu Hường Nghiên cứu “ Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm cho cho đội ngũ giảng viên ở trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên”, [41] sử dụng phương pháp nghiên cứu chính là điều tra bằng phiếu hỏi với 13 giáo viên, 25 lãnh đạo các ban xây dựng đảng và 155 học viên lớp bồi dưỡng tại trung tâm, đề tài đã cho thấy thực trạng bồi dưỡng năng lực sư phạm chỉ đạt ở mức khá, thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm chỉ đạt mức khá, trên cơ sở nghiên cứu thực trạng bồi dưỡng và quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên ở trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên tác giả đề xuất 4 biện pháp quản lý để nghiên cứu thực trạng nói trên [41]. Luận văn của tác giả Lý Thị Hồng Nghiên cứu “Quản lý hoạt động bồi dưỡng kỹ năng tư vấn giáo dục cho giáo viên chủ nhiệm các trường THPT huyện Chiêm hóa tỉnh Tuyên Quang”, sử dụng phương pháp nghiên cứu chính là điều tra bằng phiếu hỏi với 18 CBQL, 120 giáo viên chủ nhiệm và 300 học sinh tại 6 trường THPT trên địa bàn huyện Chiêm hóa, đề tài đã cho thấy thực trạng kỹ năng tư vấn giáo dục ở mức trung bình khá (Xtb = 3,65), thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng kỹ năng tư vấn chỉ đạt mức khá, trên cơ sở nghiên cứu thực trạng bồi dưỡng và quản lý hoạt động bồi dưỡng kỹ năng tư vấn giáo dục cho giáo viên chủ nhiệm các trường THPT huyện Chiêm hóa tỉnh Tuyên Quang tác giả đề xuất 5 biện pháp quản lý để nâng cao thực trạng nói trên [39]. Luận văn của tác giả Phạm Thị Mỹ Hạnh Nghiên cứu “Quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học cho đội ngũ giáo viên trường THCS quận Lê Chân Thành 9 phố Hải Phòng”, sử dụng phương pháp nghiên cứu chính là điều tra bằng phiếu hỏi với 15 CBQL và 80 giáo viên tiêu biểu ở 3 trường THCS, đề tài đã cho thấy thực trạng bồi dưỡng năng lực dạy học chỉ đạt ở mức khá, thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học chỉ đạt mức khá, trên cơ sở nghiên cứu thực trạng bồi dưỡng và quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên trường THCS quận Lê Chân Thành phố Hải Phòng tác giả đề xuất 6 biện pháp quản lý để nghiên cứu thực trạng nói trên [38].
Như vậy, các công trình nghiên cứu ở trong nước đã tập trung vào nhiều phương diện khác nhau của vấn đề bồi dưỡng năng lực dạy học cho GV phổ thông. Tuy nhiên, còn ít công trình nghiên cứu về quản lý bồi dưỡng NLDH cho giáo viên THCS đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông mới. Đó cũng là lý do để tác giả mạnh dạn nghiên cứu đề tài "Quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên THCS ở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông mới". Một số khái niệm cơ bản 1.
Quản lý, quản lý giáo dục 1. Quản lý Khi xã hội loài người xuất hiện, một loạt các quan hệ như quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với xã hội và cả quan hệ giữa con người với chính bản thân mình xuất hiện theo. Điều này nảy nhinh như cầu về quản lý. Ngày nay, quản lý đã trở thành một nhân tố của sự phát triển xã hội.
Yếu tố quản lý tham gia vào mọi lĩnh vực trên nhiều cấp độ và liên quan đến mọi người.Mác nói: "Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cần đến sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất khác với sự vận động của các khí quan độc lập của nó.