CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA QUAN LÝ HOAT DONG BOI DUONG GIAO VIEN MON KHOA HOC TU NHIEN O TRUONG TRUNG HOC CO SO 1. Tổng quan van đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu của thé giới về bồi dưỡng GV, quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên Trong giáo dục, bồi dưỡng GV được coi là một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục. Tuy nhiên, van dé quản lý hoạt động bồi dưỡng GV thường gặp nhiều thách thức và khó khăn.
Những kinh nghiệm quản lý hoạt động bồi dưỡng GV của các nước trên thế giới đã cho thấy những cách tiếp cận hiệu quả trong việc tăng cường chất lượng giáo dục và nâng cao năng lực chuyên môn cho GV. * Nền giáo dục của một số nước phát triển Một trong những quốc gia tiên tiến trong lĩnh vực bồi dưỡng GV là Phần Lan. Tại đây, chính phủ đã đầu tư mạnh mẽ vào bồi dưỡng GV, với mục tiêu tạo ra những giáo viên có năng lực cao và đảm bảo chất lượng giáo dục cho HS. Cụ thé, ho tạo ra một hệ thong bồi dưỡng liên tục cho GV, bao gồm các khóa học chuyên môn, hội thảo, thực tập và các chương trình đổi người giữa các trường học.
Ngoài ra, Phần Lan còn tạo ra một chương trình đào tạo GV mới theo mô hình đối tác công - tư, trong đó GV được đảo tạo trong môi trường thực tế và được hướng dẫn bởi các GV có kinh nghiệm. Giáo dục của nước Mỹ Luôn đứng đầu thế giới về khoa học công nghệ (KHCN), Mỹ được coi là quốc gia đầu tiên xây dựng chuẩn GV làm cơ sở dé tuyển chọn và đánh giá giáo viên. Tổng thống Hoa Kỳ đã nêu 10 vấn đề của giáo dục trong đó nhấn mạnh: “Đề có trường học tốt nhất cần phải có GV giỏi nhất”. Khi quyết định đưa vị trí của giáo dục lên hang đầu, Chính phủ Mỹ lấy giải pháp bồi dưỡng phát triển DNGV làm then chốt.
Các nhà hoạch định chính sách, lãnh đạo nhà trường, chuyên gia giáo dục ở Mỹ đã ngày càng nhận thay ảnh hưởng to lớn của GV như một yếu tô then chốt trong việc thúc đây hoạt động học tập ở HS. Do đó, họ quan tâm ngày một nhiều đến việc nâng cao và phát triển chuyên môn cho GV. Trong đào tạo bồi dưỡng GV tạo môi trường thực tế dé GV thực nghiệm tư duy mới, cách làm mới. GV được tự chủ, tự chịu trách nhiệm về trình độ, năng lực của mình, GV có quyền phát triển ý tưởng mới.
Giáo đục của nước Nhật Bản: Là cường quốc kinh tế thé giới vươn lên từ đống tro tàn của Chiến tranh thé giới thứ II (1945) với những nỗ lực vượt bậc và chiến lược phát triển GD khôn ngoan, Nhật Bản luôn quan tâm phát triển giáo dục. Ngoài ra, GV ở Nhật Bản cũng được đào tạo để tương tác với các phụ huynh và cộng đồng địa phương, giúp đỡ và đồng hành cùng các HS. Là một quốc gia nghèo về tài nguyên, nhưng đặc biệt chú trọng đến GD nhằm phát triển nguồn vốn con người. Nhật Bản đã rất thành công.
Ngoài các nước nói trên, các quốc gia khác như Anh, Australia, Canada và New Zealand cũng đang đầu tư mạnh vào bồi dưỡng GV. Tại đây, GV được đào tạo với một cách tiếp cận sáng tạo và hiệu quả. Họ được đào tạo dé sử dụng các phương tiện giảng dạy hiện đại, để tạo ra một môi trường học tập hiệu quả và thú vị cho HS. * Nền giáo dục của một số nước trong khu vực Giáo dục của Trung Quốc: Với Trung Quốc mục tiêu chiến lược là “làm cho đất nước giàu mạnh thông qua khoa học và giáo dục”.
Họ nhận định khi giáo dục phát triển thì ưu thế to lớn về nguồn nhân lực con người sẽ không quốc gia nào sánh bằng. Trong Chiến lược cải cách và phát triển GD của Trung Quốc có đoạn viết: “Chan hưng tương lai dân tộc là giáo dục. Như vậy, muốn phục hưng dân tộc phải dựa và GD mà muốn phục hưng GD phải dựa vào đội ngũ nhà giáo. Cho nên trong những thập kỉ qua, Trung Quốc ưu tiên xây dựng, phát triển và chuẩn hóa DNGV trong đó ưu tiên GV giỏi cho hệ thống các trường điểm, trường chất lượng cao, củng cô DNGV trường điểm đủ số lượng, cân đối về cơ cấu và mạnh về chất lượng.
Hiện nay, GV của Trung Quốc phải đạt các chuẩn về năng lực: xử ly giáo trình, tổ chức lớp hoc, sử dụng phương pháp dạy học, đánh giá kết quả học tập, nghiên cứu trong dạy học, thăm dò dư luận, tìm hiéu kiên thức va nang lực của HS. Giáo dục của Thái Lan Ở Thái Lan công tác tuyên chọn, bồi dưỡng, dao tạo GV theo hướng GD thích ứng với một xã hội phát triển, thịnh vượng, bình đăng và có trình độ phát triển cao. Trong chiến lược cải cách GD ở Thái Lan thì hệ thống phát triển DN cán bộ, GV được chú trọng tới mục đích khuyến khích nguồn nhân lực này có kiến thức và năng lực tham gia vào hệ thống GD quốc dân và phát triển DNGV đáp ứng yêu cầu xã hội. Họ đã tiến hành các biện pháp cụ thể như: xúc tiến việc thiết lập một hệ thống liên tục phát triển DNGV và đội ngũ hỗ trợ chuyên môn trong các tô chức GD; Phát triển số lượng các công trình nghiên cứu của GV thông qua tự học, đảo tao, bồi dưỡng; Xây dựng hệ thống liên kết, kết nối GV trong khối và GV cấp liên ngành, liên trường, trong và ngoài nước.
Các nghiên cứu 6 trong nước Dé nâng cao chất lượng giảng dạy trong nhà trường thi vai trò của các biện pháp quản lý là rất quan trọng. Trong thời gian qua, ở Việt Nam đã có nhiều nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục (QLGD), nghiên cứu về hoạt động bồi dưỡng GV. Các tài liệu như: Sách, tạp chí, tập san, chuyên san, báo Giáo dục thời đại. được xuất bản cũng như được đăng tải xuất hiện ngày càng nhiều và càng phong phú về nội dung, van đề bồi dưỡng GV, phát triển DNGV.
Các tác giả nghiên cứu về đào tạo, bồi dưỡng GV, quan lý DNGV ở phạm vi khác nhau như những nghiên cứu của các tác giả Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Ngọc Quang, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Quốc Chi,. Theo các tác giả Bùi Minh Hiền - Đặng Quốc Bảo cho rằng PNGV có vai trò rất quan trọng cho sự thành bại của sự nghiệp giáo dục. Vì DNGV đã tạo ra các sản phẩm có sự tích hợp cả nhân tố tinh thần và vật chất, đó là “Nhân cách - sức lao động”. Vì thế DNGV luôn cần có kỷ cương sư phạm, có tư cách, phẩm chất tốt, dé luôn luôn là tam gương sáng cho HS noi theo [4].
Tác giả Tran Bá Hoành trong bai viết "Chất lượng giáo viên" (năm 2004), quan điểm của tác giả khăng định có yếu tố của quá trình đào tạo, sử dụng, bồi dưỡng, hoan cảnh, điều kiện lao động sư phạm, ý chí thói quen và năng lực tự học của GV đã ảnh hưởng đến chất lượng GV. Đồng thời, ông cũng đề xuất 3 giải pháp cho van dé đào tạo, bồi dưỡng GV: phải đổi mới công tác dao tạo, công tác bồi dưỡng và việc sử dụng GV [35]. Luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành QLGD của Phạm Hong Quân với dé tài "Quản lý hoạt động bồi dưỡng GV ở các trường THCS huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc" đã đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng GV phù hợp với điều kiện và nhu cầu bồi dưỡng ở các trường THCS huyện Yên Lạc, Vĩnh Phúc [49]. Tác gia Vũ Thị Thanh với dé tài “Quản lý hoạt động bồi đưỡng GV THCS ở huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang theo yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay” đã nghiên cứu lý luận, thực tiễn từ đó đề xuất một số biện pháp quản lý phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động bồi dưỡng GV THCS huyện Yên Sơn nói riêng cũng như GV THCS nói chung theo yêu cầu đôi mới giáo dục hiện nay [51].
Dé tài của tác giả Trần Anh Tuan “Quản lý đánh giá đội ngũ GV THCS huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội theo chuẩn nghệ nghiệp " với mong muốn góp phần khắc phục bat cập, hạn chế, thực hiện tốt hon quan lý đánh giá DNGV THCS theo chuẩn nghề nghiệp, góp phan nâng cao chat lượng DNGV các trường THCS trong giai đoạn hiện nay [50]. Dé tài "Quản lý hoạt động chuyên môn của Hiệu trưởng tại các trường Trung học phổ thông huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội" của tác giả Nguyễn Hồng Quang đã nghiên cứu chỉ ra rang quản lý chuyên môn là nhiệm vụ quan trọng nhất trong các hoạt động quản lý của nhà trường vì nó quyết định trực tiếp đến chất lượng GDĐT cua nhà trường[44]. Tại báo cáo kết quả nghiên cứu Đề tài: "Đánh giá thực trạng triển khai chương trình bồi dưỡng thường xuyên cho GV phổ thông" do tác giả Cao Đức Tiến làm Chủ nhiệm, đã đánh giá việc bồi dưỡng thường xuyên theo chu kỳ đã tạo ra được một thói quen tự học tập, tự bồi dưỡng trong toàn thể GV trên phạm vi cả nước [48]. Trên cơ sở nhiều nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã đề cập đến vai trò và tầm quan trong của việc BDGV môn KHTN đồng thời với những nghiên cứu lý luận về quản lý, thực trạng quản lý hoạt động BDGV môn KHTN tại các trường THCS Huyện Phúc Thọ cũng đưa ra được nhiều giải pháp dé nâng cao hiệu quả và chất lượng công tác bồi dưỡng GV.
Tuy có nhiều bài viết và công trình nghiên cứu, luận văn về chủ đề này nhưng vấn đề bồi dưỡng GV THCS 10 theo yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay cụ thé là ở môn KHTN vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu một cách, thường xuyên, có hệ thống, cũng như chưa có công trình nghiên cứu nào về quan lý hoạt động bồi dưỡng GV môn KHTN ở các trường THCS huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội. Vi thế, rất cần thiết nghiên cứu dé tai này, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục môn KHTN ở các trường THCS huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội thực hiện hiệu quả Chương trình GDPT mới 2018. Các khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu 1. Quan niệm về quản lý Có nhiều các quan niệm của các tác giả, các nhà nghiên cứu về quản lý.Mác cho rang: “Tat cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiễn hành trên quy mô tương doi lón, thì it nhiều cũng can đến một sự chỉ đạo.