đặt vấn đề, nêu cách GQVĐ. HS thực hiện cách GQVĐ theo hướng dẫn của GV. GV đánh giá kết quả làm việc của HS. - Mức 2: GV nêu vấn đề, gợi ý để HS tìm ra cách GQVĐ.
HS thực hiện cách GQVĐ với sự giúp đỡ của GV khi cần. GV và HS cùng đánh giá. - Mức 3: GV cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề. HS phát hiện và ác định vấn đề nảy sinh, tự đề xuất các giả thuyết, giải pháp và lựa chọn giải pháp.
HS thực hiện giải pháp để GQVĐ. GV và HS cùng đánh giá. - Mức 4: HS tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình hoặc cộng đồng, lựa chọn vấn đề cần giải quyết. Học sinh GQVĐ, tự đánh giá chất lượng, hiệu quả, có ý kiến bổ sung của GV khi kết thúc.
Quy trình dạy học GQVĐ gồm 4 giai đoạn sau: skkn 8 “Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề theo định hướng phát triển năng lực học sinh vào chương “CHẤT KHÍ” Vật lí lớp 10 – THPT” Nhận biết vấn đề Học sinh tiếp cận tình huống có vấn đề được gợi ý hoặc giáo viên kích thích học sinh tự tạo ra tình huống có vấn đề. Lập kế hoạch giải quyết vấn đề Học sinh đề xuất giả thuyết giải quyết vấn đề, đưa ra các phương án và lập kế hoạch giải quyết vấn đề. Thực hiện kế hoạch Đánh giá việc thực hiện kế hoạch giải quyết vấn đề. Kiểm tra, đánh giá và kết luận Học sinh rút ra kết luận về cách giải quyết vấn đề, từ đó lĩnh hội được tri thức, kĩ năng hoặc vận dụng được kiến thức, kĩ năng để giải quyết vấn đề trong thực tiễn.
CƠ SỞ THỰC TIỄN 2. Thực trạng vận dụng dạy học giải quyết vấn đề ở trường THPT Để tiến hành tìm hiểu về thực trạng việc vận dụng dạy học GQVĐ ở bộ môn Vật lý THPT tôi đã tiến hành khảo sát bằng cách sử dụng phiếu điều tra dành cho 20 GV dạy Vật lí ở một số trường trên địa bàn Quỳnh Lưu, Hoàng Mai ( em ở phụ lục 1a) và phiếu điều tra dành cho 88 HS trường THPT Hoàng Mai 2 ( em ở phụ lục 1b) với mục đích thu thập thông tin, phân tích khó khăn, thuận lợi của thực trạng dạy học GQVĐ ở bộ môn Vật lý ở trường phổ thông. Phiếu khảo sát GV và HS (có trong Phụ lục kèm theo). Sau khi thu thập, phân tích, tổng hợp qua các phiếu điều tra, kết quả cho thấy như sau: 5% 5% 25% Thỉnh thoảng Thường xuyên nhưng chưa bài bản 65% Vận dụng rất bài bản theo các bước Không vận dụng Biểu đồ 1.
Thống kê về mức độ vận dụng dạy học giải quyết vấn đề trong dạy học Vật lí skkn 9 “Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề theo định hướng phát triển năng lực học sinh vào chương “CHẤT KHÍ” Vật lí lớp 10 – THPT” 10% Tốn nhiều thời gian để tìm hiểu về 10% phương pháp Năng lực bản thân 60% 20% Trình độ của học sinh Tất cả các yếu tố trên Biểu đồ 2. Thống kê về những nguyên nhân khó khăn trong việc vận dụng dạy học giải quyết vấn đề trong dạy học Vật lí 11% 5% Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo 5% Năng lực nhận thức vật lí 79% Năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học Tất cả các năng lực trên Biểu đồ 3. Thống kê về các năng lực phát triển cho HS qua dạy học giải quyết vấn đề môn Vật lí 14% 11% 9% Thí nghiệm Bài tập Các câu hỏi 66% Các giả thuyết Biểu đồ 4. Thống kê về các biện pháp HS được giao để giải quyết vấn đề trong dạy học vật lí 5% 9% Rất hứng thú 27% Hứng thú 59% Bình thường Không hứng thú Biểu đồ 5.
Thống kê về mức độ hứng thú của HS khi được GV tạo tình huống học tập Từ số liệu điều tra đó có thể thấy đã có nhiều GV quan tâm đến PPDH giải quyết vấn đề để phát triển năng lực cho HS nhưng lại chưa nắm được quy trình cũng như vận dụng PPDH này một cách bài bản; Chưa quan tâm đến việc tạo hứng thú cho HS trong quá trình học tập, lĩnh hội và vận dụng tri thức. skkn 10 “Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề theo định hướng phát triển năng lực học sinh vào chương “CHẤT KHÍ” Vật lí lớp 10 – THPT” Trước những thực trạng, tồn tại, hạn chế đó, tôi nghĩ cần phải đưa ra các giải pháp để thiết kế các hoạt động dạy học GQVĐ theo định hướng phát triển năng lực HS với các bước ây dựng và tiến hành một cách “bài bản” để hướng đến việc phát triển năng lực HS đáp ứng với yêu cầu đổi mới của ngành giáo dục trong giai đoạn mới và đáp ứng xu thế về yêu cầu đầu ra cho HS. Thuận lợi và khó khăn trong việc áp dụng đề tài 2.1 Thuận lợi Nhiều GV tham gia các các lớp bồi dưỡng, tập huấn của Sở, tham gia học các module về đổi mới PPDH đặc biệt là các nội dung liên quan đến dạy học phát triển NL. Một số GV đã vận dụng được các PPDH tích cực trong dạy học; kĩ năng sử dụng thiết bị dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức hoạt động dạy học để hướng đến phát triển NL cho HS.
Có nhiều cuộc thi nghiên cứu khoa học kỹ thuật dành cho HS THPT nhằm khuyến khích HS nghiên cứu, sáng tạo khoa học, công nghệ, kỹ thuật và vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn cuộc sống; góp phần thúc đẩy đổi mới hình thức tổ chức và PPDH; đổi mới hình thức và phương pháp đánh giá kết quả học tập; phát triển năng lực HS. Đông đảo GV có nhận thức đúng đắn về đổi mới PPDH. Nhiều GV đã ác định rõ sự cần thiết và có mong muốn thực hiện đổi mới đồng bộ PPDH và kiểm tra đánh giá. Cơ sở vật chất phục vụ đổi mới PPDH những năm qua đã được đặc biệt chú trọng.
Nhiều dự án của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã và đang được triển khai thực hiện trên phạm vi cả nước đã từng bước cải thiện điều kiện dạy học và áp dụng công nghệ thông tin - truyền thông ở các trường THPT, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đổi mới PPDH. Khó khăn Số GV thường uyên chủ động, sáng tạo trong việc phối hợp các PPDH, các kĩ thuật dạy học cũng như sử dụng các PPDH phát triển NL của HS còn chưa nhiều. Nhiều GV còn mơ hồ, lúng túng, không hiểu những PPDH hiện đại, phát triển năng lực HS. Dạy học vẫn nặng về truyền thụ kiến thức lí thuyết.
Sự hiểu biết của GV về các PPDH, kĩ thuật dạy học tích cực còn hạn chế, chủ yếu mới dừng lại ở mức độ "biết" một cách rời rạc, thiếu tính hệ thống; chưa làm chủ được phương pháp mới nên GV "vất vả" hơn khi sử dụng so với các phương pháp truyền thống, dẫn đến tâm lí ngại sử dụng. Nhiều GV sử dụng PPDH tích cực mang tính hình thức, đôi khi còn máy móc dẫn đến kém hiệu quả, chưa thực sự phát huy được tính tích cực, tự lực, sáng tạo skkn 11 “Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề theo định hướng phát triển năng lực học sinh vào chương “CHẤT KHÍ” Vật lí lớp 10 – THPT” của HS; hiệu quả khai thác sử dụng các phương tiện dạy học và tài liệu bổ trợ theo PPDH tích cực hạn chế. Nhiều GV có vận dụng dạy học GQVĐ hằng ngày trong tiết học nhưng chưa bài bản, các bước tiến hành chưa có chiều sâu, chưa đưa ra công cụ đánh giá cho mỗi giai đoạn và cũng chưa chú trọng xem mục đích của giai đoạn đó là hướng đến việc phát triển NL nào cho HS. Một số hoạt động vận dụng dạy học GQVĐ mà GV đưa ra chỉ có HS có học lực khá, giỏi nhiệt tình tham gia còn nhóm HS có học lực trung bình, yếu lại không tích cực khi tham gia học tập.
Lâu dần làm các em thấy “sợ” môn học và mất dần yêu thích bộ môn. Một số HS chưa hợp tác khi vận dụng dạy học GQVĐ do quy trình và cách thức áp dụng mà GV đưa ra không hấp dẫn nên hiệu quả chưa cao. Việc kiểm tra chủ yếu chú ý đến yêu cầu tái hiện kiến thức và đánh giá qua điểm số đã dẫn đến tình trạng GV và HS duy trì dạy học theo lối "đọc-chép" thuần túy, HS học tập thiên về ghi nhớ, ít quan tâm vận dụng kiến thức. Hoạt động kiểm tra đánh giá ngay trong quá trình tổ chức hoạt động dạy học trên lớp chưa được quan tâm thực hiện một cách khoa học và hiệu quả.
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 3. Tổng quan chương “CHẤT KHÍ” Vật lí lớp 10 – THPT 3. Vị trí, đặc điểm chương “CHẤT KHÍ” Vật lí lớp 10 – THPT Chương “CHẤT KHÍ” là chương đầu tiên của phần II Nhiệt học, nó là cơ sở và nền tảng đề nghiên cứu các kiến thức tiếp theo. Nội dung kiến thức của chương “CHẤT KHÍ” được thể hiện trong sách giáo khoa Vật lý lớp 10 hiện hành gồm 4 bài (gồm 5 tiết): Bài 28: Cấu tạo chất, Thuyết động học phân tử chất khí.
Bài 29: Quá trình đẳng nhiệt, Định luật Bôi-lơ – Ma-ri-ốt. Bài 30: Quá trình đẳng tích, Định luật Sác-lơ. Bài 31: Phương trình trạng thái của khí lí tưởng. Mục tiêu dạy học của chương “CHẤT KHÍ” Vật lí lớp 10 – THPT 3.
Về kiến thức - Phát biểu được nội dung cơ bản của thuyết động lực học phân tử chất khí - Nêu được đặc điểm của khí lí tưởng. - Phát biểu và viết được biết thức của các định luật Bôi lơ – Ma ri ốt, định luật Sác – lơ; viết được hệ thức liên hệ giữa thể tích và nhiệt độ tuyệt đối của quá trình đẳng áp. - Vẽ được các đường đẳng nhiệt, đẳng tích và đẳng áp. - Nêu được nhiệt độ tuyệt đối là gì? skkn 12 “Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề theo định hướng phát triển năng lực học sinh vào chương “CHẤT KHÍ” Vật lí lớp 10 – THPT” - Viết được phương trình trạng thái khí lí tưởng.
Về kỹ năng - Vận dụng được các kiến thức đã học để giải thích một số hiện tượng liên quan. - Vận dụng được các định luật chất khí và phương trình trạng thái khí lí tưởng để giải một số bài tập. - Có kĩ năng làm thí nghiệm và vận dụng phương pháp ử lí các số liệu thu được bằng thí nghiệm vào việc ác định mối liên hệ giữa các đại lượng trong các đẳng quá trình.