CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Đặc điểm tâm lí của học sinh lứa tuổi trung học phổ thông 1. Đặc điểm nhận thức Học sinh (HS) trung học phổ thông (THPT) là HS ở độ tuổi từ 15 đến 18 tuổi, là giai đoạn đầu của lứa tuổi thanh niên (15-25 tuổi). HS đã đạt đến mức trưởng thành về cơ thể, sự phát triển thể chất tương đối hài hòa, cân đối.
Sự hoàn thiện về mặt cơ thể có ảnh hưởng rõ nét đến sự phát triển tâm lí và nhận thức của lứa tuổi này. Hoạt động của HS THPT đã vượt ra ngoài phạm vi nhà trường, ảnh hưởng từ bên ngoài xã hội vào nhóm này rất mạnh. HS thường sử dụng các phương tiện nghe nhìn để xem phim, kịch, tin tức, nghe nhạc; HS đã có sự tranh luận, thể hiện suy nghĩ cá nhân về các trào lưu, xu hướng và những vấn đề được xã hội, đặc biệt là giới trẻ quan tâm. Thái độ đối với việc học tập cũng có sự thay đổi, thái độ tự ý thức về việc học tập cho tương lai được nâng cao; HS thể hiện thái độ lựa chọn đối với từng môn học, hứng thú và khuynh hướng học tập trở nên xác định và thể hiện rõ ràng hơn.
Với đặc điểm này, giáo viên (GV) có thể sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin (CNTT) để trình bày lồng ghép những vấn đề được xã hội quan tâm có liên quan đến bài học nhằm tạo hứng thú, làm cơ sở để phát huy năng lực sáng tạo cho HS trong quá trình dạy học. HS ở độ tuổi THPT cũng là giai đoạn có vị trí quan trọng trong việc phát triển trí tuệ. Cảm giác, tri giác ở lứa tuổi này đã đạt ở mức độ của người lớn, khiến năng lực cảm thụ được nâng cao. Trí nhớ phát triển tốt, HS đã biết sử dụng nhiều phương pháp ghi nhớ chứ chứ không phải chỉ là một cách máy móc thụ động học thuộc nữa.
Sự chú ý, sự tập trung cũng phát triển hơn; hoạt động tư duy phát triển mạnh. Ở thời kì này, HS đã có khả năng tư duy lí luận, trừu tượng một cách độc lập, sáng tạo; hoạt động nhận thức đã phát 11 triển ở mức độ tương đối cao, đã có khả năng nhận thức vấn đề một cách đúng đắn, sâu sắc; khả năng tư duy cũng đã phát triển và sẽ được hoàn thiện dần trong quá trình học tập và rèn luyện [22]. Bên cạnh đó, ở lứa tuổi này hầu hết HS đã biết sử dụng máy tính, khai thác các công cụ tìm kiếm và xử lí thông tin trên internet; sử dụng thành thạo điện thoại thông minh, mạng xã hội, tham gia vào các nhóm và diễn đàn trên internet với mức độ khác nhau. Đây là đặc điểm quan trọng tạo cơ hội cho GV khai thác, sử dụng kết hợp các phương tiện dạy học, nhất là phương tiện CNTT nhằm cung cấp nhiều tư liệu trực quan, tác động vào nhận thức của HS theo nhiều kênh khác nhau nhằm phát triển tư duy cho HS.
Khả năng sử dụng phương tiện công nghệ, mạng internet… để tìm kiếm, khai thác và xử lí thông tin của HS vừa là điều kiện thuận lợi, vừa là tiềm năng lớn để phát triển năng lực sáng tạo cho HS. Nghiên cứu đặc điểm nhận thức của HS là cơ sở quan trọng để GV lựa chọn phương pháp dạy phù hợp, tập trung phát triển tư duy trừu tượng; rèn luyện kĩ năng phân tích để phát triển tư duy độc lập, khắc phục tình trạng có kết luận vội vàng; dạy bám sát với thực tiễn hơn là trên lí thuyết. Bên cạnh đó, GV có căn cứ để lựa chọn những hình thức và biện pháp ứng dụng CNTT phù hợp với lứa tuổi và khả năng sử dụng các phương tiện CNTT của HS, có cách thức tổ chức các hoạt động học tập phù hợp với tâm sinh lí và đặc điểm nhận thức của HS, tạo hứng thú học tập, qua đó phát huy được tính tích cực, sáng tạo của HS. Đặc điểm hứng thú trong học tập Theo từ điển tiếng Việt, hứng thú có hai nghĩa.
Nghĩa thứ nhất hứng thú là “Biểu hiện nhu cầu của chủ thể, làm cho chủ thể tìm cách để thỏa mãn, tạo ra khoái cảm; thích thú và huy động sinh lực nhằm cố gắng thực hiện” và nghĩa thứ hai hứng thú là “sự ham thích” [32]. Như vậy, hứng thú là sự vui vẻ, hào hứng, thích thú của con người đối với một hoạt động nào đó. Hứng thú trong học tập là thái độ đặc biệt của chủ 12 thể đối với hoạt động học tập; là sự thoải mái, chủ động, thích thú, tích cực, say mê trong học tập của người học. Khi có hứng thú học tập nói chung, có hứng thú học tập môn Ngữ văn nói riêng, HS sẽ chăm chú, tập trung vào mọi hoạt động học tập ở trên lớp; tích cực tham gia hoạt động nhóm, đại diện cho nhóm phát biểu ý kiến trước tập thể; hăng hái trả lời các câu hỏi của GV đưa ra, bổ sung ý kiến cho câu trả lời của bạn; hay đưa ra những ý kiến tranh biện, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa hiểu rõ ràng; chủ động vận dụng kiến thức đã học, kĩ năng đã biết để nhận thức vấn đề mới, tập trung chú ý vào vấn đề đang học; kiên trì hoàn thành bài tập, không nản chí trước những tình huống khó khăn [26].
Như vậy, khi HS hứng thú với bài học, với môn học thì sẽ tạo được không khí học tập sôi nổi, mê say, hào hứng…, người học tiếp nhận tri thức một cách chủ động và tự giác, không bị ép buộc và tất nhiên kết quả học tập sẽ đạt được mức cao hơn. Hơn thế nữa, hứng thú cũng chính là con đường cơ bản để dẫn đến sáng tạo và tài năng. Học sinh THPT phần lớn đã nhận thức được tầm quan trọng của học tập; tuy vậy, giữa nhận thức và hành động cũng còn nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân thì có nhiều, trong đó cơ bản là chưa có động cơ học tập đúng đắn, chưa có hứng thú thực sự với môn học.
Thưc tế cho thấy HS chỉ có kết quả học tập cao khi thực sự có hứng thú với môn học. Vấn đề đặt ra cho hoạt động giáo dục hiện nay là tổ chức dạy và học như thế nào để hình thành và nâng cao hứng thú học tập cho HS. Việc GV tạo được những bài giảng sinh động, hấp dẫn, kích thích sự hứng thú, khiến HS say mê hơn trong học tập chính là một trong số những câu trả lời. Đồng thời, qua đó GV sẽ giúp HS phát triển được năng lực học tập của mình và rút ngắn hơn khoảng cách đến với chân trời của tri thức.
Trong thời đại “bùng nổ” CNTT hiện nay, hầu hết giới trẻ nói chung và HS trung học phổ thông nói riêng đều sử dụng các phương tiện CNTT với 13 những mục đích khác nhau và có xu hướng sử dụng chúng vào mọi công việc có thể. Hứng thú của HS trong sử dụng các phương tiện CNTT cũng như khả năng sử dụng thành thạo các phương tiện CNTT vừa là đặc điểm vừa là điều kiện thuận lợi không nhỏ cho GV nếu GV biết khéo léo khai thác lợi thế này vào mục đích học tập, phục vụ giải quyết các nội dung của bài học nhằm nâng cao chất lượng dạy học. Năng lực sáng tạo và việc phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh trong dạy học Ngữ văn 1. Năng lực sáng tạo Năng lực là khái niệm được nói đến rất nhiều trong lĩnh vực nghiên cứu giáo dục trong thời gian gần đây.
Tùy thuộc vào vấn đề nghiên cứu, năng lực được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, mỗi cách hiểu đều có những thuật ngữ tương ứng. Theo từ điển Tiếng Việt, năng lực có nghĩa gốc chung là “khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó” và “phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [32]. Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018 của Bộ Giáo dục và đào tạo giải thích: Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện; cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể [6]. Sáng tạo là hoạt động tạo ra cái mới có giá trị của con người nhằm giải quyết vấn đề đặt ra một cách hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của con người.
Cũng theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, các năng lực chung cần được hình thành và phát triển cho HS trung học phổ thông bao gồm: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải 14 quyết vấn đề và sáng tạo. Những năng lực đặc thù - năng lực được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định như: năng lực ngôn ngữ (chủ yếu trong môn Ngữ văn và Ngoại ngữ); năng lực tính toán (chủ yếu là ở môn Toán); năng lực công nghệ (chủ yếu ở môn Công nghệ); năng lực tin học (chủ đạo là ở môn Tin học); năng lực thẩm mĩ (chủ yếu trong các môn Âm nhạc, Mĩ thuật, Ngữ văn); năng lực thể chất (chủ yếu trong môn Giáo dục thể chất). Tất cả những năng lực chung và năng lực đặc thù đó là những năng lực cốt lõi - năng lực cơ bản, thiết yếu mà bất kì người nào cũng cần phải có để sống, học tập, làm việc có hiệu quả. Ngoài ra, chương trình giáo dục phổ thông còn đề cập đến vấn đề phát hiện, bồi dưỡng năng lực đặc biệt - năng khiếu về trí tuệ, văn nghệ, thể thao, kĩ năng sống cho HS.
Năng lực sáng tạo là khả năng tạo ra những giá trị mới về vật chất và tinh thần, tìm ra cái mới, giải pháp mới, vận dụng thành công những hiểu biết đã có vào hoàn cảnh mới. Năng lực sáng tạo được cấu thành từ các yếu tố: tư duy sáng tạo, động cơ sáng tạo, ý chí sáng tạo, phương tiện điều kiện sáng tạo, môi trường sáng tạo; trong đó tư duy sáng tạo là yếu tố cơ bản nhất, quyết định hiệu quả hoạt động sáng tạo.