CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số vấn đề cơ bản về tài liệu dạy học tự chọn môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 4 theo định hướng phát triển năng lực 1. Tài liệu dạy học 1. Khái niệm Tài liệu dạy học là thuật ngữ chung “mô tả các tài nguyên mà GV sử dụng trong giảng dạy”[39].
Tài liệu dạy học tự chọn môn Tiếng Việt 4 bao gồm các kiến thức bổ sung và khai thác sâu nội dung kiến thức Tiếng Việt. Đi kèm theo nó có thể có các thiết bị dạy học như: sổ tay kiến thức, từ điển, những tài liệu hướng dẫn GV dạy học theo mỗi tài liệu đó. Ví dụ: Tài liệu dạy học là SGK Tiếng Việt lớp 4, đi kèm theo nó là Sách giáo viên hướng dẫn GV tổ chức các phương pháp, hình thức dạy học. Tài liệu có tính hấp dẫn cả về nội dung và hình thức biểu hiện.
Nội dung các bài tập được thiết kế trong tài liệu dạy học phải có nội dung cụ thể, rõ ràng, thể hiện rõ điều cần biết, điều cần phải tìm hiểu và mối quan hệ giữa chúng. Để thực hiện các dạng bài tập này, học sinh phải có khả năng suy luận logic dựa trên những kiến thức đã học, phải biết vận dụng những khái niệm, định nghĩa,… từ đó phân loại bài tập, tìm ra cách giải hợp lí, hiệu quả. Tác dụng của tài liệu dạy học Việc sử dụng các tài liệu dạy học tự thiết kế sẽ kích thích hứng thú của học sinh, tăng tính tự giác tích cực trong học tập. Tài liệu dạy học cũng góp phần giúp giáo viên trong việc đổi mới phương pháp dạy học một cách tích cực nhất, tổ chức các hoạt động học tập một cách tích cực sôi nổi từ đó góp phần phát triển các năng lực học tập cho học sinh như: năng lực tự học, năng lực tự giải quyết vấn đề.
Tầm quan trọng của tài liệu dạy học Trong chương trình giáo dục phổ thông 2018, tài liệu dạy học có vai trò hết sức quan trọng trong những tiết dạy học tự chọn môn Tiếng Việt. Xây 11 dựng tài liệu dạy học giúp bản thân giáo viên có những kho tài liệu cho riêng mình để từ đó vận dụng vào giảng dạy, mang đến cho học sinh những bài học lý thú và bổ ích. Tài liệu dạy học vừa phục vụ cho việc phát triển năng lực người học, vừa có chức năng giáo dục, nâng cao tri thức, hiểu biết cho GV và HS trong những giờ học tự chọn Tiếng Việt. Dạy học tự chọn 1.
Khái niệm về dạy học tự chọn Dạy học tự chọn là một xu thế giáo dục đã xuất hiện từ khá lâu trên thế giới với mục đích giáo dục hướng tới phát triển năng lực cho HS, tạo điều kiện cho HS phát triển năng khiếu, sở trường. Bàn về khái niệm dạy học tự chọn, Brimijoin và Narvaez (2008) đưa ra ý kiến: “Dạy học phân hóa là một triết lí dạy học dựa trên tiền đề cho rằng HS học tốt nhất khi giáo viên GV điều chỉnh quá trình dạy học sao cho phù hợp với trình độ, sở thích và phong cách học tập của các em”. Còn Ann Carol Tomlinson thì cho rằng: “Dạy học tự chọn cung cấp cho người học những con đường khác nhau để chiếm lĩnh nội dung dạy học. Thông qua đó, HS đạt được hiệu quả học tập cao hơn”.
Các báo cáo giới thiệu về chương trình của một số nước: Anh, Pháp, Mĩ, Singapore… cũng cho thấy GDPT của các nước trên thế giới chuyển từ hình thức phân ban sang hình thức phân hoá bằng tự chọn. Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, vấn đề dạy học tự chọn đã và đang được các tác giả, các nhà nghiên cứu quan tâm. Hầu hết các ý kiến đều thống nhất chung một quan điểm rằng dạy học tự chọn không phải là hình thức nhồi nhét kiến thức mà là rèn luyện các kĩ năng, phát huy năng lực và tạo hứng thú học tập cho HS. Đến năm học 2022 – 2023, dạy học tự chọn được đưa vào chương trình với định hướng và quy định cụ thể trong chương trình GDPT 2018.
Bộ GD&ĐT cũng lưu ý các nhà trường tạo điều kiện để học sinh được học tập các môn tự chọn và tham gia các hoạt động giáo dục, nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện ở tiểu học. 12 Việc tổ chức dạy học tự chọn ở trường phổ thông là một giải pháp để thực hiện dạy học phân hóa các môn học, linh hoạt về nội dung, phương pháp và thời gian, tạo cho việc học thiết thực, hứng thú, nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập của mỗi người học. Mục tiêu và nguyên tắc chung của dạy học tự chọn ở tiểu học. Mục tiêu của dạy học tự chọn ở tiểu học nhằm mục đích phân hóa HS, góp phần phát triển năng lực cá nhân trong một số lĩnh vực học tập, bồi dưỡng tài năng sở trường của HS theo đặc điểm của cấp tiểu học và địa phương, thực hiện được các mục tiêu đề ra của giáo dục tiểu học Dạy học tự chọn ở tiểu học phải đảm bảo các nguyên tắc phát huy được tính tích cực chủ động, linh hoạt, sáng tạo, rèn óc tư duy phản biện, tinh thần tự học của học sinh.
Bên cạnh đó, dạy học tự chọn phải phát huy được những truyền thống của địa phương và dân tộc, từng bước theo kịp với sự phát triển của giáo dục tiểu học trên thế giới. Các hình thức dạy học tự chọn ở tiểu học. Trong chương trình GDPT do Bộ GD&ĐT ban hành, có hai hình thức dạy học tự chọn đối với bậc Tiểu học đó là tự chọn bắt buộc và tự chọn không bắt buộc. Với hình thức tự chọn bắt buộc, HS được GV hướng dẫn để căn cứ vào những năng lực, khả năng cũng như điều kiện cụ thể của bản thân mà lựa chọn học tập một hoặc một số môn học.
Còn với hình thức tự chọn không bắt buộc, HS được GV, nhà trường hướng dẫn để căn cứ vào nhu cầu, năng lực, điều kiện cụ thể của HS mà lựa chọn hoặc không lựa chọn một hoặc một số môn học, hoạt động giáo dục cụ thể. Nội dung dạy học tự chọn môn Tiếng Việt ở tiểu học Xuất phát từ những mục tiêu, nguyên tắc chung, nội dung dạy học tự chọn được đưa ra gồm hai nội dung: Một là củng cố, gắn kết với nội dung môn học quy định trong chương trình, giúp HS nắm vững các kiến thức cơ bản của chương trình, chủ yếu phục vụ cho việc ôn luyện, thực hành, củng cố, hệ thống hoá, khắc sâu kiến thức và kĩ năng đã học. Nội dung thứ hai là nâng 13 cao với những kiến thức mở rộng, sâu sắc hơn so với chương trình GDPT song vẫn gắn kết chặt chẽ với chương trình, giúp HS mở rộng thêm các kiến thức đã học. Dạy học phát triển năng lực 1.
Khái niệm về năng lực Từ điển Tiếng Việt định nghĩa về năng lực như sau: “Năng lực: “khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó” hoặc “phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [23]. Theo chương trình GDPT 2018 do Bộ GD&ĐT ban hành, khái niệm năng lực được xem là “thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [7].Khái niệm này đã có sự kế thừa và làm sáng rõ hơn các thành tố của năng lực, có chức năng tạo nền tảng, cơ sở lý luận vững chắc để xây dựng chương trình giáo dục phổ thông theo định hướng phát triển năng lực cho người học. Như vậy, việc định nghĩa “năng lực” có sự thay đổi qua từng thời kì và ngày càng được hoàn thiện hơn.
Đặc biệt, theo chương trình GDPT tổng thể 2018, khái niệm về năng lực được phân tích một cách cụ thể và chi tiết hơn cả: năng lực bao gồm những thuộc tính con người sẵn có và những thuộc tính có được thông qua quá trình rèn luyện, học tập; là kết quả của sự tổng hợp các kiến thức, kĩ năng, hứng thú, niềm tin…. và được thể hiện ra thông qua việc thực hiện thành công một hoạt động nhất định. Dạy học phát triển năng lực Nếu dạy học nội dung lấy kiến thức làm mục tiêu hướng tới, không quan tâm đến việc HS có vận dụng được những kiến thức đã học vào tình huống thực tế cuộc sống dẫn đến hệ quả HS biết được nhiều kiến thức nhưng 14 vận dụng thực hành lại lúng túng, vụng về thì dạy học phát triển năng lực lại khắc phục các hạn chế đó. Mục tiêu cuối cùng của dạy học phát triển năng lực không phải là kiến thức, là nội dung hay tri thức mà là những năng lực cần cần thiết để sống và làm việc một cách có hiệu quả.
Với dạy học phát triển năng lực, kiến thức chỉ là phương tiện để đạt tới mục tiêu cuối cùng là năng lực. Đó cũng là định hướng cho việc lựa chọn nội dung dạy học, phương pháp dạy học. Nghĩa là khi dạy một vấn đề hay một kiến thức nào đó, GV cần xác định rõ ràng rằng dạy để làm gì, giúp ích cho HS những kĩ năng cần thiết nào, những hiểu biết ấy sẽ giúp HS vận dụng được vào những tình huống nào trong cuộc sống? Ngược lại, HS trong quá trình học cũng phải luôn luôn tự đặt ra câu hỏi tương tự để tìm hiểu và trả lời. Tuy nhiên, chú trọng tới mục tiêu phát triển năng lực không có nghĩa là xem nhẹ kiến thức.
Không có kiến thức thì không thể có năng lực, Kiến thức vẫn đóng vai trò cốt lõi tạo ra năng lực cho HS. Năng lực giống như một khối bê tông trong đó tổng hợp rất nhiều nguyên liệu: xi măng, sỏi, đá… Trong khối bê tông đó, sắt thép là rường cột. Sắt thép là kiến thức. Chương trình nội dung cũng quan tâm đến tất cả nhưng đặc biệt coi trọng sắt thép, coi trọng kiến thức dẫn đến việc những năng lực chưa được nhào nặn, chưa thể gắn kết được thành một khối bê tông vững chắc.
Ví dụ trên để hiểu rằng dạy học phát triển năng lực không chỉ quan tâm đến các chất liệu (kiến thức, kĩ năng, thái độ…) mà còn phải coi trọng cách thức và phương pháp giáo dục.