CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ E-LEARNING.1 Tổng quan về E-learning E-Learning là hình thức học tập bằng truyền thông thông qua mạng internet theo cách tương tác với nội dung học tập và được thiết kế dựa trên nền tảng của phuơng pháp dạy học.[19] E-learning là việc sử dụng công nghệ mạng để thiết kế, cung cấp, lựa chọn, quản trị và mở rộng việc học tập.[20] E-Learning là việc cung cấp nội dung thông qua các phương tiện điện tử bao gồm internet, intranet, mạng vệ tinh, băng đĩa, CD- Room, ti vi…[21] E-learning hay còn gọi là giáo dục trực tuyến, là phương thức học ảo thông qua một máy vi tính nối mạng đối với một máy chủ ở nơi khác có lưu giữ sẵn bài giảng điện tử và phần mềm cần thiết đề cho người học học trực tuyến từ xa. Hiện nay phương pháp học trực tuyến rất được chú trọng đó là phương pháp tương tác bảng điện tử, các bài giảng được giáo viên trình bày thông qua phuơng pháp tại lớp và được ghi hình làm tư liệu giảng dạy một cách sống động và người học có thể linh động về thời gian cũng như địa điểm học tập.2 Lịch sử về E-learning và một số kết quả nghiên cứu đã công bố. Thành tựu của công nghệ thông tin đã góp phần làm thay đổi chất lượng cuộc sống. Thay đổi theo hướng phát triển toàn diện các mặt của kinh tế, xã hội, khoa học, kỹ thuật và đặc biệt đối với giáo dục.
E-learning được ra đời dựa trên sự phát triển vượt bậc về công nghệ thông tin kết hợp với các phương pháp dạy học được tối ưu hóa nhằm mang lại hiệu quả cho việc giáo dục, phục vụ nhu cầu dạy và học ngày càng cao của con người.1 Trên thế giới Sự ra đời của thuật ngữ “E- learning”: Vào tháng 10 năm 1999 ở Los Angeles, một cuộc hội thảo về hệ thống Đào Tạo cơ bản về Máy tính Computer Base Training, một thuật ngữ mới lần đầu được sử dụng trong một môi trường giáo Luan van 6 dục chuyên nghiệp đó là E-learning. Được kết hợp giữa học qua mạng và học chính thức, thuật ngữ này được cho là một phương thức học tập dựa trên việc sử dụng công nghệ mới là truy cập trực tuyến trên máy tính. Với phương thức tương tác và cá nhân hóa ngựời học trong suốt quá trình học tập dựa trên internet, các phương tiện điện tử như: intranet, extranet, truyền hình tương tác, CD- Rom…E-learning đã góp phần vào sự phát triển năng lực trong suốt quá trình học tập độc lập của người học.[33] 6 5 4 3 Chu trình phát triển ứng 2 dụng của E-learning 1 0 1995 1997- 2000 2001- 2002 2003 đến nay Biểu đồ 1.1: Biểu đồ thể hiện chu trình ứng dụng của E-learning. Giai đoạn tiên phong: 1995 Giai đoạn phát triển vượt trội: 1997- 2000 Giai đoạn thoái trào: 2001- 2002 Giai đoạn hiên nay: 2003 đến nay.
Qua quá trình tìm hiểu, người nghiên cứu chia quá trình hình thành và phát triển của E-learning thành 3 giai đoạn chính sau: Giai đoạn sơ khai Từ năm 1924 tại đại học bang Ohio, Giáo sư Sidney Pressey đã phát minh ra máy chấm điểm tự động. Là thiết bị học tập điện tử đầu tiên, được thiết kế để cho học sinh khám phá và tự kiểm tra. Lần thử đầu tiên này đã không thành công. Năm 1930, các Luan van 7 thiết bị truyền thông hỗ trợ giảng dạy đầu tiên như radio, máy thu âm, phim có lời được các nhà giáo dục đưa vào trong dạy học.
Phương thức dạy học có sự hỗ trợ của phương tiện truyền thông được ra đời. Vào năm 1943, chương trình dạy học nghe nhìn tại Mỹ được ra đời, và chương trình này được áp dụng cho trường đại học Indiana vào năm 1946. Năm 1954: Giáo sư BF Skinner của Đại học Harvard đã chế tạo ra máy giảng dạy. Là một thiết bị cơ khí với mục đích là để quản lý một chương trình giảng dạy theo lập trình.
Trong giai đoạn này người học học thông qua các phương tiện radio, truyền hình và video,… chưa có sự xuất hiện của công nghệ máy tính. Máy tính điện tử số đầu tiên ENIAC – Electronic Numerical Integrator And Computer) do Giáo Sư Mauchly và hoc trò Eckert tại Đại học Pennsylvania thiết kế từ năm 1943 và cho ra mắt vào năm 1946 nhằm phục vụ cho chiến tranh thế giới lần thứ 2. Ngay sau đó máy tính được sử dụng rộng rãi trong các trường đại học, các cơ quan chính phủ và ngân hàng. Từ năm 1960, các cơ sở giáo dục bắt đầu tận dụng lợi thế của các phương tiện mới bằng cách cung cấp các khóa học đào tạo từ xa sử dụng mạng máy tính để biết thông tin.
Đầu tiên là Đại học Illinois đã khởi xướng một hệ thống lớp học mà sinh viên có thể truy cập tài liệu thông tin trên một khóa học đặc biệt trong khi nghe các bài giảng được ghi lại thông qua một số thiết bị truyền hình hoặc thiết bị âm thanh. Cũng trong thời gian đó, giáo sư tâm lý Patrick Suppes và Richard C. Atkinson đã thử nghiệm sử dụng máy tính để dạy toán và đọc sách cho con trẻ trong các trường tiểu học ở Đông Palo Alto, California. Hệ thống E-learning ban đầu dựa trên việc học và đào tạo với máy tính trong đó vai trò của hệ thống E-learning chủ yếu dùng cho việc chuyển giao kiến thức, trái ngược với các hệ thống sau này là phát triển dựa trên việc hỗ trợ học tập, khuyến khích chia sẻ kiến thức.
Năm 1963, Bernard Luskin cài đặt máy tính đầu tiên trong một trường cao đẳng cộng đồng để được hướng dẫn, làm việc với Đại học Stanford và những người khác, phát triển máy tính hướng dẫn hỗ trợ. Luskin hoàn thành luận án UCLA, bước ngoặc của ông là làm việc với tổng công Luan van 8 ty Rand nhằm phân tích những trở ngại trong việc sử dụng sự trợ giúp, hướng dẫn của máy tính vào năm 1970. Năm 1972, Ray Tomlinson đã phát minh ra E-mail để gửi thông điệp trên mạng. Từ đó đến nay E-mail là một trong những dich vụ trao đổi thông tin được sử dụng nhiều nhất.
Trong thập niên 70 và 80 tại New Jersey Học tập dựa trên máy tính đã hình thành nên những khóa học E-Learning đầu tiên và được phát triển bởi Murray Turoff và Starr Roxanne Hiltz. Năm 1976, Bernard Luskin đưa ra mô hình đại học không có trường (Coastline Community College). Nhìn chung thời kì này máy tính chưa thực sự được sử dụng rộng rãi, phương pháp giáo dục “Lấy giáo viên làm trung tâm” vẫn là phương pháp phổ biến trong các trường học. Từ năm 1984 – 1993: Vào giữa thập niên 1980 khi tổ chức khoa học quốc gia Mỹ NSF thành lập mạng liên kết các trung tâm máy tính lớn với nhau gọi là NSFNET.
Đây là mốc lịch sử quan trọng của Internet được xác lập. Giai đoạn này có thể gọi là Kỷ nguyên đa phương tiện được đánh dấu bằng sự ra đời của hệ điều hành Windows 3.1, máy tính Macintosh, phần mềm trình diễn Powerpoint, cùng các công cụ đa phương tiện khác. Những công cụ này cho phép tạo ra những bài giảng có tích hợp âm thanh và hình ảnh dựa trên công nghệ Computer Base Training (CBT). Bài học được phân phối qua đĩa CD-ROM hoặc đĩa mềm.
Vào bất kì thời gian nào, ở đâu, người học đều có thể mua và tự học. Tuy nhiên, sự hướng dẫn của Giáo viên cũng rất hạn chế. Giai đoạn phát triển: Người đầu tiên nghĩ ra chương trình giáo dục online là ông William D. Graziedei, một giáo sư sinh học của trường Cao Đẳng tại Plattsburgh, với dự án năm 1993 là Virtual Instructional Classroom Enviroment In Science (VICES).
Tạm dịch: Môi trường dạy và học ảo trong khoa học. Ông đã dựa vào máy tính trực tuyến, giao bài giảng, hướng dẫn và đánh giá dự án sử dụng thư điện tử. Năm 1994, các trường trung học trực tuyến đầu tiên đã được thành lập. Năm 1994, chương trình giảng dạy CALCampus được trình bày trực tuyến đầu tiên như Internet ngày càng trở nên dễ tiếp cận hơn thông qua mạng lưới viễn thông.
Khi công nghệ web được phát minh, các nhà cung cấp dịch vụ giáo dục đào tạo bắt Luan van 9 đầu nghiên cứu cách thức cải tiến phương pháp giáo dục bằng công nghệ này. Các chương trình: Email, Web, trình duyệt, Media player, kỹ thuật truyền Audio/Video tốc độ thấp cùng với ngôn ngữ hỗ trợ Web như HTML, JAVA bắt đầu trở nên thông dụng và đã làm thay đổi bộ mặt của đào tạo bằng đa phương tiện. Graziedei công bố một bài báo “Xây dựng hệ thống dạy và học đồng bộ và không đồng bộ: khai thác giải pháp hệ thống quản lý các lớp học và khoá học” miêu tả sự phát triển chiến lược tổng thể cho việc quản lý khoa học dựa trên công nghệ hệ thống giáo dục. Theo biểu đồ sự phát triển của E-learning thì đây được coi là giai đoạn phát triển thịnh vượng của công nghệ E-learning.
Giai đoạn 2001 – đến nay Với sự thay đổi mạnh mẽ của Internet, công nghệ đa phương tiện bắt đầu được giới thiệu trong chương trình học. Theo số liệu thống kê của Hội Phát triển và Đào tạo Mỹ (American Society for Training and Development, ASTD), năm 2000 Mỹ có gần 47% các trường đại học, cao đẳng đã đưa ra các dạng khác nhau của mô hình đào tạo từ xa, tạo nên 54.000 khoá học trực tuyến. Theo một nghiên cứu năm 2008 được tiến hành bởi Bộ Giáo Dục Hoa Kỳ, trong năm học 2006-2007 khoảng 66% các trường công lập và tư nhân sau trung học bắt đầu cung cấp một số khoá học từ xa. Tại Châu Âu, Công ty IDC ước đoán rằng thị trường E-Learning của Châu Âu sẽ tăng tới 4 tỷ USD trong năm 2004 với tốc độ tăng 96% hàng năm.
Ngoài việc tích cực triển khai E-Learning tại mỗi nước, giữa các nước châu Âu có nhiều sự hợp tác đa quốc gia trong lĩnh vực E-learning. Điển hình là dự án xây dựng mạng xuyên Châu Âu EuroPACE. Đây là mạng E-Learning của 36 trường đại học hàng đầu châu Âu thuộc các quốc gia như Đan Mạch, Hà Lan, Bỉ, Anh, Pháp cùng hợp tác với công ty E-learning của Mỹ Docent nhằm cung cấp các khoá học về các lĩnh vực như khoa học, nghệ thuật, con người phù hợp với nhu cầu học của các sinh viên đại học, sau đại học, các nhà chuyên môn ở Châu Âu. Trong năm 2008, Hội đồng châu Âu đã thông qua một tuyên bố ủng hộ của học tập điện tử tiềm năng cải thiện bình đẳng giáo dục trên toàn EU.
Luan van 10 Tại châu Á, bên cạnh các quốc gia đang phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc, việc ứng dụng E-learning mạnh mẽ hơn các quốc gia khác.