Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh ở trường Tiểu học Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh ở các trường TH huyện ệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh ở các trường TH huyện ệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. 11 CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIỀNG ANH Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề Trong bối cảnh toàn cầu hóa, ngoại ngữ đóng vai trò then chốt và là chìa khóa để phát triển hội nhập.
Kinh nghiệm của các nước phát triển và các nước công nghiệp mới nỗi trên thế giới cũng như trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương đã chỉ rõ, trong những điều kiện cần thiết để hội nhập và phát triển thì ngoại ngữ là điều kiện tiên quyết, là phương tiện đắc lực và hữu hiệu trong tiến trình hội nhập và phát triển 'Việc giảng dạy ngoại ngữ đặc biệt là giảng dạy tiếng Anh đóng một vai trò rất to lớn trong việc hội nhập quốc tế. Trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của xu hướng toàn cầu hoá thì vai trò của tiếng Anh ngày càng được khẳng định. Nước ngoài Trong một nghiên cứu gần đây, Graddol [23] khảo sát tình hình giảng dạy tiếng Anh bậc TH ở 8 nước trong khu vực gồm Singapore, Philippines, Thái Lan, Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Indonesia và Việt Nam. Trừ Philippines là nước có lịch sử dạy tiếng Anh bậc TH lâu đời nhất (1901), và Singapore không có dữ liệu trong bản thống kê này, các nước còn lại trong đó có.
'Việt Nam, việc giảng dạy tiếng Anh bậc TH bắt đầu từ những năm 90 của thế kỷ trước (riêng Nhật Bản bắt đầu từ năm 2002). Trong khi tiếng Anh là môn học bắt buộc đối với HS TH ở Singapore, Philippines, Thái Lan, Hàn Quốc và Đài Loan, thì ở Việt Nam, Nhật Bản, và Indonesia tiếng Anh cho bậc TH vẫn còn là môn tự chọn [23] Tiếng Anh được giới thiệu từ lớp 1 6 Singapore, Philippines và Thái Lan, trong khi đó ở Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản và Việt Nam HS chính thức học tiếng Anh từ lớp 3, còn Indonesia là lớp 4. Tuy vậy, ở hầu hết các nước, HS đã bắt đầu làm quen với tiếng Anh từ lớp 1 hoặc 2 (Hàn Quốc là lớp 3). Trừ Nhật Bản và Indonesia, các nước.
còn lại đều đã có khung chương trình chính thức cho việc dạy tiếng Anh ở TH [25] 12 Số giờ HS TH ở các nước học tiếng Anh chênh lệch đáng kê. Philippines có số giờ học cao nhất với 90 phut/ngay, Nhat Bản thấp nhất với khoảng 12 đến 20 giờ/năm, còn ở Việt Nam, Đài Loan, Indonesia và Hàn Quốc HS học khoảng từ 40 đến 80 phút / tuần (Thái Lan và Singapore không có dữ liệu) [25]. Theo Graddol, việc dạy tiếng Anh bậc TH ở các nước trong khu vực có chung những khó khăn. Trong khi số lượng HS của mỗi lớp còn quá đông, ví dụ như ở Singapore là 30 và Philippines lên đến 60, số HS này có trình độ không đồng đều khiến việc tổ chức DH gặp nhiều trở ngại.
Về phía GV, các nước nêu trên có chung. tình trạng thiếu nguồn GV được đào tạo bài bản chuyên nghiệp. Do đó, số GV dang đứng lớp có năng lực tiếng Anh và nghiệp vụ sư phạm còn hạn chế. Điều này dẫn đến việc GV lúng túng trong việc luyện âm cho HS cũng như tổ chức học tập theo.
PP lấy người học làm trung tâm. Bên cạnh đó, thiếu môi trường giao tiếp bằng tiếng. Anh trong và ngoài lớp học, thiếu tài liệu học tập kích thích óc sáng tạo và hứng thú cho HS và thời gian học được bố trí cho từng lớp quá ít cũng là những thách thức. không nhỏ đối với việc dạy và học tiếng Anh cho bậc TH [25] Kết quả nghiên cứu về GV dạy tiếng Anh cho bậc TH ở các nước trong khu vực được đảo tạo và tuyển dụng không giống nhau.
Ở Singapore, Philippines, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan GV TH phụ trách một lớp và dạy tất cả các môn cho. lớp đó kể cả tiếng Anh. GV đứng lớp TH ở các nước này (trừ Nhật Bản) được đào. tao để dạy bậc TH, trong chương trình đào tạo có môn tiếng Anh [24] 1.
Trong nước Ở Việt Nam, từ sau khi nước nhà giành được độc lập đến nay, do những điều kiện lịch sử, quan hệ ngoại giao và nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của từng thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chúng ta đã tổ chức dạy và học một số tiếng nước. ngoài trong đó phổ biến là tiếng Anh. Theo báo cáo của Bộ Giáo dục - Dao tạo, HS TH 6 các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh bắt đầu học tiếng Anh từ những. năm 1990 tại các trung tâm ngoại ngữ hoặc các CLB.
Năm 1996, Bộ Giáo dục - Dao tao có văn bản chính thức cho phép một số trường TH đưa môn tiếng Anh vào. dạy như một môn tự chọn mỗi tuần 2 tiết. Đến năm 2000 một số Sở Giáo dục - Đào. tạo đã từng bước đưa môn tiếng Anh vào hệ thống QL giáo dục như ban hành các 13 văn bản hướng dẫn việc dạy tiếng Anh trong các trường TH, mở các lớp tập huấn về PP giảng dạy tiếng Anh cho GV.
Đến năm 2003, lần đầu tiên Bộ Giáo dục - Đào tạo. ban hành chương trình môn tiếng Anh TH bắt đầu từ lớp 3, mỗi tuần 2 tiết cho các trường lớp 2 buổi/ngày. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân tác động, chất lượng DHTA ở nước ta chưa đạt hiệu quả cao như mong muốn trên một bình diện chung. Nội dung, PP dạy và học chưa chú ý phát triển kỹ năng sử dụng tiếng Anh như một công cụ giao tiếp, phục vụ học tập.
Học hết phô thông, đa số HS có trình độ ngoại ngữ không thể giao. tiếp và sử dụng thông thạo tiếng Anh. Qua đó chúng ta thăng thắn nhìn nhận chất lượng và hiệu quả của việc dạy và học tiếng Anh hiện rất thấp so với yêu cầu của. Hiệu quả thấp này thể hiện ở khả năng đáp ứng đòi hỏi của công việc, giao dịch, nghiên cứu và học \p bằng tiếng Anh của đa số người Việt Nam còn hạn chế.
Trong nước đã có không ít hội thảo, bài viết, bài tham luận, dé tài nghiên cứu đã đè cập đến các vấn đề trong việc DHTA: Thực trạng của việc DHTA, đổi mới PP DHTA, các biện pháp QL nâng cao chất lượng DHTA. Các công trình nghiên cứu đã có đóng góp đáng kể trong việc đánh giá đúng thực trạng DHTA ở tại cơ sở, địa phương, bậc học của mình. Tìm ra những điểm mạnh chung hoặc những điểm bất cập đề đồng nghiệp. cing chia sé, học tập rút kinh nghiệm lẫn nhau.
Trên cơ sở các giải pháp, biện pháp. mang tính khả thi, khoa học đã góp phần nâng cao QL chất lượng DH ngoại ngữ. Tai tinh Quang Binh, từ năm học 2003-2004 chương trình tiếng Anh tự chọn từ lớp 3 đã bắt đầu được triển khai. Đến nay, 8/§ huyện, thị xã thành phố triển khai giảng dạy tiếng Anh ở các trường TH.
Từ nhiều năm nay, Sở Giáo duc va Dao tao Quảng Bình đã chú trọng trong việc thực hiện nhiều chương trình tiếng Anh nhằm đẩy mạnh khả năng học ngoại ngữ của HS. Với mục tiêu “Đổi mới toàn diện việc dạy và học ngoại ngữ trong hồng giáo dục, triển khai chương trình dạy và học ngoại ngữ mới ở các cấp học, nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ và đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triên kinh tế - xã hội, đưa ngoại ngữ trở thành thế mạnh phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá”. Nhiệm vụ cụ thê theo Đề án là xác định tầm chiến lược đối với môn tiếng Anh là để góp phần phát triển kinh tế xã hội, phục vụ nhu cầu nhân lực của tỉnh nhà trong thời kỳ mới; Nâng 14 cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ trong các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh Quảng Bình đảm bảo yêu cầu về trình độ, năng lực Nghe, Nói, Đọc, Viết tương thích với các tiêu chí xác định 6 bậc (A1, A2, BI, B2, C1, C2) theo Khung trình độ năng lực ngoại ngữ thống nhất do Hiệp hội các tô chức khảo thí ngoại ngữ châu Âu đã ban hành (viết tắt là KNLNN) trong đó bậc 1 là bậc thấp nhất và bậc 6 là bậc cao nhất. Tại các trường TH trên địa bàn huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, vấn đề QL HĐDH nói chung, QL HĐDH môn tiếng Anh nói riêng được các Hiệu trưởng, các nhà quản lý quan tâm nhưng đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu cụ thể nào.
Chính vì vậy, chúng tôi cho rằng việc nghiên cứu thực trạng để từ đó xác lập các biện pháp quản lý HĐDH môn tiếng Anh ở các trường TH trên địa bàn huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình là rất cần thiết và cấp bách, nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy. học môn tiếng Anh tại tỉnh Quảng Bình. Trên cơ sở tiếp thu, hệ thống hóa lý thực tiễn và kế thừa kết quả nghiên cứu của những người đi trước, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài *'“Quán lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường tiểu học huyện Lệ Thity, tinh Quang Bình”, góp phần nâng cao chất lượng dạy học, phát triển giáo dục và đào tạo ở địa phương 1. Một số kh: m cơ bản.
Quản lý và quản lý giáo dục 1. Quản lý Quản lý là một việc cần thiết cho tắt cả các lĩnh vực của đời sống con người và là một nhân tố của sự phát triển XH. Có nhiều quan điểm khác nhau về QL tùy thuộc vào các cách tiếp cận, góc độ nghiên cứu và hoàn cảnh XH, kinh tế, chính tri Có thể điểm qua một số lý thuyết đó như sau: Tác giả H. Knoontz cho rằng: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của các nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm (tổ chức).
Mục đích của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành môi trường mà trong đó. con người có thể dat được các mục đích của mình với thời gian, tiền bac, At chat va sự bắt mãn cá nhân ít nhất” [12, tr.Taylor, nhà kinh tế học người Anh thì cho rằng: “Quản lý là biết được điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy được 15 rằng họ hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”.Fayol định nghĩa: “Quản lý là dự kiến, tổ chức, lãnh đạo, phối hợp và kiểm tra. Đó là năm chức năng cơ bản của quản lý”.