Chương 1. So sánh, đối chiếu chương trình thời đại thứ nhất của văn học Việt Nam bậc phô thông Chương 2. Đánh giá chương trình thời đại thứ nhất của văn học Việt Nam Namở bậc phô thông. Những kiến nghị đối với chương trình thời đại thứ nhất của văn học Việt Nam Nam trong sách giáo khoa phổ thông.
SO SÁNH DOI CHIEU CHUONG TRÌNH THỜI ĐẠI THỨ NHÁT CUA VĂN HỌC VIỆT NAM BAC PHO THONG Ngày 5/5/2018, chương trình Giáo dục phổ thông hiện hành (từ đây gọi tắt là Chương trình GDPT 2006) do Bộ GD - ĐT ban hành kèm theo quyết định 16/2006/QD-BGDDT. Và ngày 26/12/2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Chương trình giáo dục phổ thông cùng với Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT - Chương trình Giáo dục phổ thông mới (từ đây gọi tắt là Chương trình GDPT 2018). Với mục tiêu đổi mới, Chương trình GDPT2018 đã vừa kế thừa và phát triển những ưu điểm của Chương trình GDPT 2006, lại vừa khắc phục những hạn chế, những van dé chưa phù hợp của chương trình này. Những van dé cần khắc phục, đổi mới cũng chính là những điểm mới chủ yếu của Chương trình GDPT 2018 so với Chương trình GDPT 2006.
Phản hồi từ phía giáo viên phổ thông về những khó khăn khi thực hiện chương trình SGK hiện hành tập trung nhiều nhất ở bộ phận văn học trung đại - thời đại thứ nhất của văn học Việt Nam. Bộ phận văn hoc này đưa vào dạy ở các lớp 7, 8, 9, 10 chưa that sự phù hợp với tư duy, trình độ, tâm lí lứa tuổi. Bởi văn hoc trung đại gan với các van dé tu tưởng, van hoa, văn tự của một hình thai xã hội đã qua, phần lớn là hình thức văn chương bác học, khó phổ cập đại trà. Tuy nhiên, với yêu cầu phát triển năng lực, văn học trung đại nếu được thiết kế hợp lí vẫn hoàn toàn đáp ứng tốt và hiệu quả.
Văn học trung đại Việt Nam trước nay chỉ đưa vào học những tác phẩm theo một số chủ đề hạn hẹp, cách khai thác thiên về nội dung tư tưởng, dé gây nhàm chán, khô cứng. Chang hạn chủ đề yêu nước, vốn có nhiều nội dung phong phú nhưng SGK chỉ khai thác theo hướng, yêu nước là chống ngoại xâm. Trong chương trình mới, từ những yêu cầu mới là chú trọng tính thực tiễn, SGK mới có thể sẽ ưu tiên giới thiệu nhiều hơn tác phẩm văn học hiện đại.1 So sánh, đối chiếu chương trình thời đại thứ nhất của văn học Việt Nam bậc trung học cơ sở 1. Khảo sát thời đại thứ nhất của văn học Việt Nam trong chương trình GDPT 2018 với chương trình SGK 2006 bậc trung học cơ sở 13 1.
Chương trình SGK 2006 bậc trung học cơ sở Chương trình GDPT 2006 môn Ngữ văn rất chú trọng rèn kỹ năng. Dạy học các văn bản văn chương rất thuận lợi để hình thành kỹ năng sử dụng ngôn ngữ, tạo lập văn bản, sử dụng các phép tu từ, trong đó dạy học văn học Việt Nam trung đại có vai trò lớn đối với việc sử dụng ngôn ngữ. Bởi vì, trong tiếng Việt có khoảng 2/3 trở lên là từ Hán - Việt. Đây là bộ phận từ ngữ có nguy cơ bị sử dụng sai nhiều nhất.
Việc tiếp thu những tác phẩm văn học Việt Nam trung đại góp phần hạn chế tình trạng này. về chương trình, toàn bộ phần văn học trung đại Việt Nam được dạy học trong chương trình THCS là 22 bài, gồm các thé loại: truyện ngắn, truyện truyền kỳ, thơ, tiểu thuyết chương hồi, hịch, cáo, chiếu, tấu. Văn học trung đại trong chương trình Ngữ văn 2006 bậc trung học cơ sở tập trung chủ yếu ở lớp 7, học kì 1 với những bài thơ chữ Hán và chữ Nôm; lớp 8 có thêm thể loại chiếu, cáo, hịch, tấu; lớp 9 với thê loại truyện ngắn (truyền kì) và truyện thơ. Bảng tóm lược các tác phâm/đoạn trích văn học trung đại trong chương trình Ngữ văn 2006 bậc trung học cơ sở.1 Về nội dung, văn học trung đại Việt Nam nổi bật lên một số chủ đề lớn như chủ đề về đất nước, về con người, về thiên nhiên.
vừa mang đặc điểm chung của văn học Việt Nam, vừa mang đặc điểm riêng của văn học trung đại. Chương trình Ngữ văn 2006, cấp trung học cơ sở đã thể hiện đầy đủ các chủ đề của văn học trung đại qua các thể loại đặc trưng của bộ phận văn học này: chiếu, hịch, cáo, thơ. Chủ dé đất nước có nội dung phong phú đa dang, nhưng nỗi bật lên là ý thức về độc lập dân tộc. Ý thức độc lập dân tộc là biểu hiện cao cả nhất, thiêng liêng nhất của lòng yêu nước ở một đất nước phải bỏ ra một phan ba thời gian tiến hành các cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc.
Chủ đề này thể hiện qua ba tác pham Nam quốc sơn hà, Hịch tướng sĩ, Bình Ngô dai cáo - ba tác phẩm trọng tâm của chương trình Ngữ văn hiện hành và cũng là trọng tâm của chương trình Ngữ văn mới. Theo dự thảo Ngữ liệu Ngữ văn của chương trình mới thì các tác phẩm này là ba trong số sáu văn bản bắt buộc. Có thể nói từ Nam quốc son hà qua Hịch tướng sĩ đến Bình Ngô dai cáo là ba chặng đường phát triển của cùng một chân lí 14 độc lập dân tộc của “nước Đại Việt ta”. Điểm chung của ý thức độc lập dân tộc trong Nam quốc sơn hà và Bình Ngô đại cáo là ý thức về chủ quyền, về cương vực lãnh thé.
Ở Binh Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi tiếp tục khang định sự độc lập về cương vực lãnh thổ đã từng được thể hiện trong Nam quốc sơn hà, khi tác giả viết: “Núi sông bờ cõi đã chia”. Ở Bình Ngô đại cáo, ý thức độc lập dân tộc đã phát triển của so với Nam quốc sơn hà là ở sự toàn điện và sâu sắc hơn. Chính vì vậy, ở Nam quốc sơn hà tác giả khăng định độc lập, chủ quyền dựa vào “thiên thư”, còn Nguyễn Trãi, một mặt vẫn dựa vào chân lí khách quan, mặt khác, sau hơn bốn thế kỉ giành độc lập, Đại Việt có những triều đại tồn tại ngang hàng với phương Bắc, người viết có đủ tiền đề lịch sử để chứng minh chủ quyền dân tộc dựa vào lịch sử. Và tiêu biểu cho sức mạnh của lòng yêu nước cũng chính là khang định chân lí về sự tồn tại của độc lập dân tộc.
Ở bài thơ Nam quốc sơn hà, tác giả khẳng định kẻ thù vô cớ xâm lược nước ta, đi ngược lại chân lí, lẽ phải nên sẽ thất bại hoàn toàn, “thất bại sạch trơn”: “Nhu hà nghịch lỗ lai xâm phạm / Nhữ đẳng hành khan thu bại hư”. Tư tưởng chủ đạo của Hịch tướng sĩ là nêu cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng kẻ thù xâm lược và quyết chiến quyết thắng kẻ thù trong ta, khi ở hàng ngũ tướng sĩ còn có tư tưởng cầu hòa (thực chất là đầu hàng), cầu an, hưởng lạc. Trong Bình Ngô dai cáo, tác giả lây “chứng cớ còn ghi” dé làm sáng tỏ sức mạnh của chính nghĩa - sức mạnh của nhân nghĩa, của độc lập dân tộc: kẻ thì thất bại, kẻ thì tiêu vong khi xâm lược nước Đại Việt ta. Chủ dé người phụ nữ là một chủ đề lớn qua các tác phẩm, trích đoạn tác phẩm thuộc thời đại thứ nhất của văn học viết Việt Nam được dạy học ở trung học cơ sở và trung học phố thông.
Ở trung học cơ sở, chủ đề người phụ nữ có trong các kiểu loại văn bản, từ văn bản tự sự - tự sự bằng văn xuôi (Người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ), tự sự bằng thơ (các trích đoạn Truyện Kiéu của Nguyễn Du, Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiều), đến văn bản trữ tinh (Bánh trôi nước, các trích đoạn Chinh phụ ngâm khúc). Nỗi bật lên trong chủ đề người phụ nữ là bi kịch và vẻ đẹp của người phụ nữ được phan ánh qua các tác phẩm. Di cùng với bi kịch là tiếng nói cảm thương, còn đi cùng với vẻ dep là tiếng nói khẳng định, ngợi ca người phụ nữ. Những bi kịch của người phụ nữ có khi là bi kịch riêng của giới 15 phụ nữ nhưng cũng có khi là những đau khổ chung của những con người nhỏ bé, bị áp bức.
Có thê thay ở Chuyện Người con gái Nam Xương, đó là bi kịch của người phụ nữ, bi kịch về số phận con người. Đó là bi kịch ca về thể chất (lam lũ vất vả) và tinh thần (không làm chủ số phận) của người phụ nữ trong Bánh trôi nước. bi kịch nhân phẩm trong Mã Giám Sinh mua Kiểu (trích Truyện Kiểu). Vẻ đẹp của người phụ nữ cũng là nội dung nổi bật trong chủ đề về người phụ nữ.
Ở Chuyện người con gái Nam Xương, đó là vẻ đẹp của tiết hạnh, thủy chung. Ở Bánh trôi nước, đó là người phụ nữ đẹp cả về hình thức và tâm hồn. Ở trích đoạn Chi em Thúy Kiểu là vẻ đẹp lí tưởng về nhan sắc và tài năng của người phụ nữ. Chương trình Ngữ văn 2018 bậc trung học cơ sở Chương trình GDPT 2018 môn Ngữ văn phân chia nội dung dạy học theo 2 giai đoạn: Giai đoạn giáo duc cơ bản dành cho học sinh bậc trung học cơ sở và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp dành cho bậc bậc trung học phô thông.
Trong giai đoạn giáo dục cơ bản, chương trình GDPT 2018 môn Ngữ văn có nhiệm vụ giúp học sinh sử dụng tiếng Việt thành thạo để giao tiếp hiệu quả trong cuộc sống, phát triển năng lực ngôn ngữ và học tập tốt các môn học khác, hình thành và phát triển năng lực văn học, biểu hiện đặc thù của năng lực thẩm mĩ; dong thời bôi đắp về tư tưởng, tình cảm dé học sinh phát triển vé nhân cách, tâm hôn. Kiến thức tiếng Việt và văn học được lông ghép trong quá trình dạy học đọc - hiểu, viết, nói và nghe. Các văn bản được lựa chọn, sắp xếp phù hợp với khả năng tiếp nhận của học sinh ở mỗi cấp học [5, tr 3]. Mục tiêu của môn Ngữ văn cấp trung học cơ sở trong Chương trình GDPT 2018 là giúp học sinh phát triển những phẩm chất và năng lực chung, năng lực đặc thù như năng lực ngôn ngữ, năng lực văn học.