Chương 1. Cơ sở khoa học của việc xây dựng tài liệu dạy học tự chọn môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 2 theo định hướng phát triển năng lực Chương 2. Thiết kế tài liệu dạy học tự chọn môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 2 theo định hướng phát triển năng lực. Thử nghiệm sử dụng tài liệu dạy học tự chọn môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 2 theo định hướng phát triển năng lực.
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC XÂY DỰNG TÀI LIỆU DẠY HỌC TỰ CHỌN MÔN TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 2 THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 1. Định hướng phát triển năng lực ngôn ngữ trong Chương trình Ngữ văn 2018 Ngữ văn là môn học quan trọng trong việc đào tạo, bồi dưỡng trí tuệ, tâm hồn, nhân cách cho học sinh (HS) và cũng là phương tiện để học tốt các bộ môn khác. Nội dung môn Ngữ văn (ở bậc tiểu học được gọi là “môn Tiếng Việt”) từ lớp 1 đến lớp 12 được tổ chức theo bốn mạch chính tương ứng với bốn kĩ năng giao tiếp cơ bản và phần kiến thức ngữ văn (tiếng Việt và văn học) được triển khai thành hệ thống các chuẩn cần đạt đối với từng kĩ năng cụ thể. Việc xây dựng CT dựa vào hệ thống các chuẩn cần đạt giúp nhà trường có được cơ sở đánh giá được chất lượng của sản phẩm dạy học.
Hệ thống chuẩn này cũng là căn cứ để xác định được nội dung, phương pháp dạy học và đánh giá theo từng nội dung, mỗi lớp học, cấp học sao cho HS có được những năng lực và phẩm chất mà xã hội kì vọng. Môn Ngữ văn là môn học giúp HS phát triển năng lực tư duy, năng lực tưởng tượng và sáng tạo, năng lực hợp tác, năng lực tự học và năng lực sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp và tư duy. Đồng thời với quá trình học tập môn Ngữ Văn HS có thể phát triển các năng lực tổng quát và đặc thù, phát triển tình cảm và nhân cách cho người học. Môn Ngữ văn ở trường phổ thông được dạy học như một bộ môn khoa học nhằm trang bị cho HS hệ thống các năng lực và phẩm chất trên thông qua các hoạt động dạy học, xoay quanh bốn lĩnh vực giao tiếp cơ bản: đọc, viết, nói và nghe.
Các kiến thức lí thuyết về tiếng Việt, lịch sử văn học, lí luận văn học và tập làm văn chủ yếu được dùng như là phương tiện tiến hành các hoạt động dạy học đó. Vai trò của tài liệu dạy học trong việc phát triển năng lực Tiếng Việt cho học lớp 2 theo định hướng Chương trình Ngữ văn 2018 1. Khái niệm tài liệu dạy học Tài liệu dạy học là thuật ngữ chung “mô tả các tài nguyên mà GV sử dụng trong giảng dạy”. Tài liệu dạy học tự chọn môn Tiếng Việt 2 bao gồm các kiến thức bổ sung và khai thác sâu nội dung kiến thức Tiếng Việt.
Đi kèm theo nó có thể có các thiết bị dạy học như: sổ tay kiến thức, từ điển, những tài liệu hướng dẫn GV dạy học theo mỗi tài liệu đó. Ví dụ: Tài liệu dạy học là SGK Tiếng Việt lớp 2, đi kèm theo nó là Sách giáo viên hướng dẫn GV tổ chức các phương pháp, hình thức dạy học. Tài liệu có tính hấp dẫn cả về nội dung và hình thức biểu hiện. Nội dung các bài tập được thiết kế trong tài liệu dạy học phải có nội dung cụ thể, rõ ràng, thể hiện rõ điều cần biết, điều cần phải tìm hiểu và mối quan hệ giữa chúng.
Để thực hiện các dạng bài tập này, học sinh phải có khả năng suy luận logic dựa trên những kiến thức đã học, phải biết vận dụng những khái niệm, định nghĩa,… từ đó phân loại bài tập, tìm ra cách giải hợp lí, hiệu quả. Tác dụng của tài liệu dạy học Việc sử dụng các tài liệu dạy học tự thiết kế sẽ kích thích hứng thú của học sinh, tăng tính tự giác tích cực trong học tập. Tài liệu dạy học cũng góp phần giúp giáo viên trong việc đổi mới phương pháp dạy học một cách tích cực nhất, tổ chức các hoạt động học tập một cách tích cực sôi nổi từ đó góp phần phát triển các năng lực học tập cho học sinh như: năng lực tự học, năng lực tự giải quyết vấn đề. Tầm quan trọng của tài liệu dạy học Trong chương trình giáo dục phổ thông 2018, tài liệu dạy học có vai trò hết sức quan trọng trong những tiết dạy học tự chọn môn Tiếng Việt.
Xây dựng tài liệu dạy học giúp bản thân giáo viên có những kho tài liệu cho riêng mình để từ đó vận dụng vào giảng dạy, mang đến cho học sinh những bài học lý thú và bổ ích. Tài liệu dạy học vừa phục vụ cho việc phát triển năng lực người học, vừa 11 có chức năng giáo dục, nâng cao tri thức, hiểu biết cho GV và HS trong những giờ học tự chọn Tiếng Việt. Tài liệu dạy học có vai trò rất quan trọng trong phát triển năng lực năng lực Tiếng Việt cho học sinh lớp 2 theo định hướng chương trình Ngữ văn 2018. Trong đó: Phát triển ở học sinh năng lực tư duy logic, khái quát, độc lập thông minh và sáng tạo cao hơn mức rèn luyện thông thường, giúp HS biết vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo kiến thức đã học để giải quyết bài tập trong những tình huống mới, hoàn cảnh mới; biết đề xuất đánh giá theo ý kiến bản thân,.
Thông qua đó, bải tập phát triển năng lực môn Tiếng Việt giúp HS phát hiện năng lực sáng tạo của mình trong việc đánh giá, tự đánh giá kiến thức và nội dung học tập. Bài tập trong tài liệu phát triển năng lực môn Tiếng Việt giúp HS phát triển năng lực giao tiếp ngôn ngữ ở tất cả các hình thức: đọc, viết, nói và nghe, trong đó bao gồm cả năng lực tìm kiếm và xử lí thông tin từ nhiều nguồn khác nhau. Bên cạnh đó, bài tập phát triển năng lực môn Tiếng Việt giúp HS sử dụng Tiếng Việt chính xác, mạch lạc, có hiệu quả và sáng tạo với những mục đích khác nhau trong nhiều ngữ cảnh đa dạng. Ngoài ra, bài tập phát triển năng lực môn Tiếng Việt cũng chú ý giúp HS phát triển năng lực giao tiếp bằng các phương tiện nghe nhìn hay phương tiện phi ngôn ngữ (tranh ảnh, biểu đồ, phim) Giúp HS phát triển năng lực tư duy suy luận và tư duy phản biện, từ đó HS có thể đánh giá tính hợp lí và ý nghĩa của những thông tin và ý tưởng được tiếp nhận; đồng thời thông qua bài tập phát triển năng lực môn Tiếng Việt giúp HS phát triển năng lực tưởng tượng và sáng tạo, năng lực tự lập, năng lực hợp tác và tinh thần cộng đồng trong học tập.
Giúp HS hình thành và phát triển phương pháp học tập tích cực, đặc biệt là phương pháp tự học và biết ứng dụng những kiến thức vào cuộc sống. Khi có kinh nghiệm đọc nhiều kiểu văn bản (VB) khác nhau trong nhà trường, HS có thể tự đọc sách để không ngừng nâng cao vốn tri thức và văn hóa cần thiết cho cuộc sống và công việc trong tương lai. Dạy học phát triển năng lực 1. Khái niệm về năng lực Từ điển Tiếng Việt định nghĩa về năng lực như sau: “Năng lực: “khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó” hoặc “phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”.
Theo chương trình GDPT 2018 do Bộ GD&ĐT ban hành, khái niệm năng lực được xem là “thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể”. Khái niệm này đã có sự kế thừa và làm sáng rõ hơn các thành tố của năng lực, có chức năng tạo nền tảng, cơ sở lý luận vững chắc để xây dựng chương trình giáo dục phổ thông theo định hướng phát triển năng lực cho người học. Như vậy, việc định nghĩa “năng lực” có sự thay đổi qua từng thời kì và ngày càng được hoàn thiện hơn.
Đặc biệt, theo chương trình GDPT tổng thể 2018, khái niệm về năng lực được phân tích một cách cụ thể và chi tiết hơn cả: năng lực bao gồm những thuộc tính con người sẵn có và những thuộc tính có được thông qua quá trình rèn luyện, học tập; là kết quả của sự tổng hợp các kiến thức, kĩ năng, hứng thú, niềm tin…. và được thể hiện ra thông qua việc thực hiện thành công một hoạt động nhất định. Dạy học phát triển năng lực Nếu dạy học nội dung lấy kiến thức làm mục tiêu hướng tới, không quan tâm đến việc HS có vận dụng được những kiến thức đã học vào tình huống thực tế cuộc sống dẫn đến hệ quả HS biết được nhiều kiến thức nhưng vận dụng thực hành lại lúng túng, vụng về thì dạy học phát triển năng lực lại khắc phục các hạn chế đó. Mục tiêu cuối cùng của dạy học phát triển năng lực không phải là kiến thức, là nội dung hay tri thức mà là những năng lực cần cần thiết để sống và làm 13 việc một cách có hiệu quả.
Với dạy học phát triển năng lực, kiến thức chỉ là phương tiện để đạt tới mục tiêu cuối cùng là năng lực. Đó cũng là định hướng cho việc lựa chọn nội dung dạy học, phương pháp dạy học. Nghĩa là khi dạy một vấn đề hay một kiến thức nào đó, GV cần xác định rõ ràng rằng dạy để làm gì, giúp ích cho HS những kĩ năng cần thiết nào, những hiểu biết ấy sẽ giúp HS vận dụng được vào những tình huống nào trong cuộc sống? Ngược lại, HS trong quá trình học cũng phải luôn luôn tự đặt ra câu hỏi tương tự để tìm hiểu và trả lời. Tuy nhiên, chú trọng tới mục tiêu phát triển năng lực không có nghĩa là xem nhẹ kiến thức.
Không có kiến thức thì không thể có năng lực, Kiến thức vẫn đóng vai trò cốt lõi tạo ra năng lực cho HS. Năng lực giống như một khối bê tông trong đó tổng hợp rất nhiều nguyên liệu: xi măng, sỏi, đá… Trong khối bê tông đó, sắt thép là rường cột. Sắt thép là kiến thức.