CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Giao tiếp và dạy học tiếng Việt ở tiểu học theo định hướng phát triển năng lực giao tiếp 1. Giao tiếp 1) Khái niệm giao tiếp Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về giao tiếp. Mỗi quan niệm có những cơ sở khoa học riêng của nó.
Trong luận văn này, chúng tôi không chủ trương hệ thống hóa các khái niệm khác nhau về giao tiếp mà chỉ xin đưa ra hai góc nhìn về giao tiếp: (1) Theo góc nhìn của tâm lí học, giao tiếp được hiểu là “sự tiếp xúc tâm lý giữa người và người, thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau. Hay nói khác đi, giao tiếp xác lập và vận hành các quan hệ người - người, hiện thực hoá các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác” [37, tr. (2) Theo góc nhìn của ngôn ngữ học, giao tiếp được định nghĩa là sự thông báo hay truyền đạt thông báo nhờ một hệ thống mã nào đó [6, tr. Theo đó có thể hiểu giao tiếp là sự tiếp xúc, trao đổi tư tưởng, tình cảm, vốn sống, kinh nghiệm,… giữa các thành viên trong cộng đồng (giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với tập thể, giữa tập thể với tập thể).
Giao tiếp là phương thức tồn tại của con người, nếu không có giao tiếp không thể có xã hội. 2) Hoạt động giao tiếp Mỗi cuộc giao tiếp đều gồm hai hoạt động: hoạt động tạo lập (sản sinh) lời nói (lí thuyết thông tin gọi là hoạt động truyền tin), hoạt động tiếp nhận (lĩnh hội) lời nói (lí thuyết thông tin gọi là hoạt động nhận tin). Mỗi hoạt động lại liên quan đến một số kỹ năng. Hoạt động sản sinh lời nói sử dụng kỹ năng nói và viết, hoạt động tiếp nhận lời nói sử dụng kỹ năng nghe và đọc.
10 Nói đến hoạt động giao tiếp không thể không nhắc tới các nhân tố giao tiếp. Nhân tố giao tiếp là những nhân tố có mặt trong cuộc giao tiếp, tác động và ảnh hưởng đến hiệu quả của cuộc giao tiếp. Mỗi nhân tố giao tiếp đều có vai trò nhất định, không thể thiếu trong hoạt động giao tiếp. Các nhân tố giao tiếp gồm: Nhân vật giao tiếp; Hoàn cảnh giao tiếp; Nội dung giao tiếp; Mục đích giao tiếp; Phương tiện giao tiếp.
Các nhân tố giao tiếp vừa nêu trên đây luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong hoạt động giao tiếp. Cũng có thể nói nó là những điều kiện đảm bảo cho một hoạt động giao tiếp diễn ra đạt được hiệu quả mong muốn. Khi giao tiếp chúng ta cần phải chú trọng tới tất cả các nhân tố giao tiếp này. Khái niệm năng lực Để định nghĩa năng lực, có thể chia thành các nhóm theo những phạm trù khác nhau: - Định nghĩa về năng lực, nhiều tài liệu nước ngoài quy năng lực vào phạm trù khả năng: Chương trình Giáo dục Trung học bang Quesbec, Canada năm 2004 quan niệm “năng lực là một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực” [dẫn theo 11, tr.
Tổ chức OECD (Tổ chức hợp tác Kinh tế và Phát triển) xem “năng lực là khả năng đáp ứng một cách hiệu quả những yêu cầu phức hợp trong một bối cảnh cụ thể” [dẫn theo 11, tr. Chương trình giáo dục phổ thông của New Zealand cho rằng: “Năng lực là một khả năng hành động hiệu quả hoặc là sự phản ứng thích đáng trong các tình huống phức tạp nào đó” [dẫn theo 34, tr. Theo Denyse Tremblay, “năng lực là khả năng hành động, thành công và tiến bộ dựa vào việc huy động và sử dụng hiệu quả tổng hợp các nguồn lực để đối mặt với các tình huống trong cuộc sống” [dẫn theo 11, tr. Weinert nêu rõ ba yếu tố cấu thành năng lực là khả năng, kĩ năng và thái độ sẵn sàng tham gia hoạt động của cá nhân.
Theo ông, “năng lực 11 là tổng hợp các khả năng và kĩ năng sẵn có hoặc học được cũng như sự sẵn sàng của học sinh nhằm giải quyết những vấn đề nảy sinh và hành động một cách có trách nhiệm, có sự phê phán để đi đến giải pháp” [dẫn theo 11, tr. - Ở góc độ giáo dục, theo Tài liệu hội thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể trong chương trình giáo dục phổ thông mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo lại xếp năng lực vào phạm trù hoạt động khi giải thích “năng lực là một hệ thống các cấu trúc tinh thần và khả năng huy động các kiến thức, kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hành và thái độ, cảm xúc giá trị đạo đức động lực của một người để thực hiện thành công các hành động trong bối cảnh cụ thể” [9, tr. Hay theo tác giả Nguyễn Minh Thuyết, năng lực được hiểu theo quan điểm giáo dục hướng vào năng lực hoạt động: “Năng lực là sự tích hợp của nhiều thành tố như tri thức, kĩ năng, sự sẵn sàng hoạt động, khả năng hợp tác, khả năng huy động những nguồn thông tin mới của HS để giải quyết những vấn đề đặt ra trong cuộc sống” [35, tr. Các công trình nghiên cứu trong nước, hầu hết đều coi năng lực là đặc điểm, phẩm chất hoặc thuộc tính cá nhân: Từ điển Bách khoa Việt Nam quan niệm “năng lực là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo – tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn – một hay một số dạng hoạt động nào đó” [17, tr.
Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê (chủ biên) thì năng lực được hiểu theo hai nét nghĩa: (1) “Chỉ một khả năng, điều kiện tự nhiên có sẵn để thực hiện một hoạt động nào đó”. (2) “Là một phẩm chất tâm sinh lí tạo cho con người có khả năng để hoàn thành một hoạt động nào đó có chất lượng cao” [39, tr. Cách hiểu của Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn: “Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy” [Dẫn theo 11, tr. 12 Theo tài liệu tâm lí học trích trong giáo trình Tâm lí học đại cương của tác giả Đinh Thị Kim Thoa, “năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân để phù hợp với yêu cầu của một hệ thống nhất định đảm bảo cho hoạt động nào đó hiệu quả” [33, tr.
Tuy mỗi tác giả đưa ra một khái niệm khác nhau về năng lực nhưng đều có điểm chung cốt lõi. Trong luận văn này, chúng tôi đồng quan điểm với quan điểm của Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2018 khi cho rằng: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [27, tr. Áp dụng cách hiểu trên về năng lực với học sinh tiểu học, có thể hiểu năng lực của học sinh tiểu học chính là khả năng vận dụng kết hợp kiến thức, kĩ năng và thái độ để thực hiện tốt các nhiệm vụ học tập, giải quyết có hiệu quả những vấn đề có thực trong cuộc sống phù hợp với những đặc điểm tâm lí của lứa tuổi các em.
Năng lực giao tiếp 1) Khái niệm Từ nhiều thế kỉ nay, các nhà ngôn ngữ học tên tuổi trên thế giới như: Chomxky (1965), Campbell & Wales(1970), Hymes (1972)… sử dụng nhiều khái niệm “năng lực ngôn ngữ” (laguage competence) và “năng lực giao tiếp” (communicative competence) nhưng đây là một trong những thuật ngữ gây tranh cãi nhiều nhất. Hymes là người đầu tiên đưa ra quan niệm tương đối rộng và rõ ràng về thuật ngữ “năng lực giao tiếp”. Ông cho rằng năng lực giao tiếp không chỉ là năng lực ngữ pháp vốn có mà còn là năng lực sử dụng ngôn ngữ trong các tình huống giao tiếp khác nhau. Theo ông, “năng lực giao tiếp là năng lực biết khi nào nên nói, khi nào không, nói điều gì, nói với ai, nói ở đâu, nói theo cách nào…” [dẫn theo 18, tr 2].
13 Widdowson có cùng quan điểm với Hymes khi cho rằng, “năng lực giao tiếp của người nói bao gồm cả sự hiểu biết về những quy tắc mà tạo cho người nói có khả năng sử dụng chúng một cách phù hợp để thực hiện những hành vi tu từ phong cách trong những tình huống giao tiếp xã hội nhất định” [dẫn theo 18, tr. Theo Murby (1978), “năng lực giao tiếp” phải bao hàm khái niệm “năng lực ngữ pháp” [dẫn theo 18, tr. Như vậy, các tác giả trên thế giới đưa ra cách hiểu và lý giải chưa thống nhất mặc dù năng lực giao tiếp luôn là mục tiêu cốt lõi của các chương trình dạy học ngôn ngữ hiện nay. Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu chủ yếu tổng kết lại quan điểm về khái niệm năng lực giao tiếp của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới.
Có thể định nghĩa về năng lực giao tiếp như sau: Năng lực giao tiếp là khả năng vận dụng kiến thức, kinh nghiệm, thái độ, tình cảm liên quan đến giao tiếp, đảm bảo hoạt động giao tiếp đạt được hiệu quả. 2) Các thành tố của năng lực giao tiếp Có nhiều quan điểm xung quanh vấn đề các thành tố của năng lực giao tiếp, tiêu biểu là quan điểm của các học giả như Canale và Swain, Savignon, Bachman, Celca – Murcia… Trong bài viết “Từ khái niệm năng lực giao tiếp đến vấn đề dạy và học tiếng Việt trong nhà trường phổ thông hiện nay”, nhà nghiên cứu Vũ Thị Thanh Hương đã tổng kết khá toàn diện quan điểm của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ trên thế giới, kết hợp các mô hình lí thuyết và chỉ ra: để hình thành và phát triển năng lực giao tiếp ngôn ngữ, người nói cần phải có năm khía cạnh như quan điểm của Celce – Murcia là năng lực ngôn ngữ, năng lực diễn ngôn, năng lực hành động lời nói, năng lực văn hóa xã hội, năng lực chiến lược. Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cho rằng việc phân chia năng lực giao tiếp thành các năng lực thành tố trên là quá phức tạp, khó triển khai trong dạy học.