CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE VAN DE NGHIEN CUU 1. Nghiên cứu về việc dạy từ ngữ nói chung, dạy từ ngữ tiếng Việt nói riêng cho học viên quân sự nước ngoài 1. Từ ngữ là một trong những bộ phận cấu thành của ngôn ngữ. Cho nên, có thê nói, hầu hết các tài liệu bàn về dạy tiếng đều đề cập đến vấn đề dạy từ.
Về thời gian, phải đến nửa sau của thế kỷ XX, các cuốn sách, bài báo bàn về dạy tiếng nói chung, dạy từ ngữ nói riêng mới xuất hiện. Trên thế giới, khởi đầu cho quan điểm chính thống lấy việc dạy học từ làm cơ sở, nền tảng cho việc dạy học tiếng là các công trình tiêu biểu của các tác giả như Charles Houdiard với “Vocabulaire à lécole primaire” (1955), (ĐenopeHKO với “ÏJDwHwunoi OỐy4€HUZ Ppycckomy azviky” (1973); Widdowson, H.G với “Teaching Language as Communication” (1978); Pam3aeza trong gido trinh “Memodoi o6yyenua pycckomy azoiky”’ (Chuong Phuong phdp day tw vung, 1979); Brumfit. Johnson trong “The Communicative Approach to Language Teaching” (1979); Brown, H.D trong “Principles of Language Learning and Teaching ” (1980); Littlewood, W voi “Communicative Language Teaching” (1994); Richards, C.S với “Approaches and Methods in Language Teaching” (1998), Ricardo Schytz voi “Language teaching methodology” (2000),. Nhin chung, nhimg luận thuyết được các tác giả trình bày trong các công trình nghiên cứu trên đều nhấn mạnh đến vzi /rò của việc dạy học từ trong quá trình dạy học tiếng, đồng thời, đề cao giá trị của việc tích lũy vốn từ khi cho rằng: nếu người học ngoại ngữ không học ngữ pháp thì họ chỉ có thể truyền đạt được rất ít ý tưởng của mình, nhưng nếu không có vốn từ vựng nhất định thì họ hoàn toàn không thể diễn tả được gì trong giao tiếp.
Ở Việt Nam, vấn đề dạy học từ ngữ được quan tâm muộn hơn. Mãi đến những năm 70 của thế kỷ XX mới xuất hiện một vài bài báo bàn về vấn đề này, nhưng cũng chỉ “gói ghém” trong phạm vi dạy từ ở các bài tập đọc, hay dạy tw ngữ với tư cách là phương tiện nghệ thuật của các tác giả như Hồ Lê (Một số suy nghĩ xung quanh việc dạy từ ngữ ở trường phổ thông, 1974), Đinh Phan Cảnh (Một số kinh nghiệm bước đầu về vấn để dạy từ, 1974). Và đến năm 1980, khi phân môn Từ ngữ trong các nhà trường được tách ra độc lập thì vấn đề dạy học từ ngữ mới thực sự được quan tâm. Đã có nhiều công trình đi sâu nghiên cứu về vấn đề này như “Phương pháp dạy học từ ngữ ở trường phổ thông” của Phan Thiều (1985), “Rèn luyện kỹ năng sử dụng tiếng Việt” của Đào Ngọc, Nguyễn Quang Ninh (1995), “Phương pháp dạy học tiếng Việt” của Lê A, Nguyễn Quang Ninh và Bùi Minh Toán (1996), “Phương pháp dạy tiếng Việt ở tiểu học” của Lê Phương Nga và Nguyễn Trí (1999), “Dạy - học ?ừ ngữ ở tiểu học” của Phan Thiéu va Lé Hitu Tinh (2001), “May van dé vé li luận và phương pháp dạy hoc tir ngi¢ tiéng Viét trong nha truéng” cha Nguyén Duc Tén (2003),.
Noi dung nghiên cứu của các tác giả đều xoay quanh ba vấn đề cơ bản trong dạy học từ ngữ là phát triển, mở rộng vốn từ; nắm nghĩa của từ và rèn luyện kỹ năng sử dụng từ. Tuy nhiên, tất cả những nghiên cứu đó chỉ tập trung vào việc dạy từ ngữ với tư cách là ngôn ngữ mẹ đẻ chứ không phải là những vấn đề liên quan đến việc dạy tiếng Việt với tư cách là một ngoại ngữ. Ra đời từ hơn 100 năm trước, tiếng Việt cho người nước ngoài được biết đến lần đầu tiên trong chương trình Giáo dục Pháp tại Việt Nam. Đánh dấu cho sự kiện này là cuốn tài liệu giảng dạy tiếng Việt có tựa đề Manuel De Conversation Franco — Tonkinois — Sách dẫn đàng nói chuyện bằng tiếng Phalangsa và tiếng Annam do MM.
Tuy trải qua một chặng đường khá dài và đến nay cũng đã có nhiều người, nhiều quốc gia quan tâm đến vấn đề dạy tiếng Việt như một ngôn ngữ thứ hai, nhưng phần đông họ chưa chú trọng đúng mức đến vai trò của các phương pháp giảng dạy. Trong khi đó, đề đạt được kết quả cao nhất trong dạy học nói chung, dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ nói riêng, không thể không có một phương pháp giảng dạy đúng đắn. Khảo sát các tài liệu đã được công bố, có thê thấy rằng, trên thế giới, phương pháp dạy học tiếng như một ngoại ngữ đã thực sự được các nhà sư phạm quan tâm từ nửa cuối thế kỷ XX. Thậm chí, có hắn ngành dạy tiếng (language teaching) thuộc ngôn ngữ học ứng dụng (applied linguistics) với hàng loạt tên tuôi tiêu biểu như Fries, C.
Tién phong cho lĩnh vực này là chương trình đào tạo phương pháp dạy tiếng Anh như một ngoại ngữ của Đại học Michigan do Charles Fries khởi xướng. Chương trình dao tao nay ngay lập tức đã tạo ra hiệu ứng tích cực và có sức lan tỏa mạnh mẽ đến nhiều quốc gia. Năm 1979, Blatchford đã đưa ra một thống kê cho thấy tại Mỹ có 8 học viện và trường đại học có chương trình đào tạo giáo viên dạy tiếng Anh như một ngoại ngữ ở bậc tiến si, 66 hoc viện có chương trình dao tao ở bậc thạc sĩ, tổng cộng có 84 học viện và trường đại học có chương trình đào tạo giáo viên dạy tiếng Anh như một ngoại ngữ [dẫn theo Nguyễn Thiện Nam]. Từ đó đến nay, số lượng cơ sở đào tạo giáo viên dạy tiếng Anh như một ngoại ngữ trên thế giới đã tăng đến hàng trăm đầu mối và phát triển ở nhiều quốc gia.
Pháp, Nhật Bản cũng đã ứng dụng mô hình này trong việc dạy tiếng Pháp, Nhật cho người nước ngoài. Song song với việc đào tạo phương pháp dạy học, các nhà sư phạm cũng đã đi sâu nghiên cứu về phương pháp dạy học tiếng với tư cách là một ngoại ngữ. Trong đó, đáng chú ý là các công trình nghiên cứu của Chomsky N (Lnguistic theory, Northeast Conference on the teaching of Foreign Language, 1966); Swaffar. Arens, and Morgan (Teacher classromm practices: redefining method as task hierachy, 1982); Richards J.
T (Foreign and second language learning. Language acquisition research and its implication for the classroom, 1989); Ellis, R (Understanding second language acquisition, 1992); Laughin Mc, Robbinss. Đây thực sự là những viên gạch đầu tiên góp phần đặt nền móng vững chãi cho việc nghiên cứu các phương pháp dạy học tiếng với tư cách là một ngoại ngữ. Đối với dạy học tiếng Việt như một ngoại ngữ, có thể khẳng định rằng, đây là một công việc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và vô cùng cần thiết, nhất là khi Việt Nam đang “thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” (Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI).
Với sứ mệnh là đưa tiếng Việt và văn hóa Việt Nam đến với đông đảo Việt kiều đang sinh sống ở nước ngoài cũng như bạn bè quốc tế, một số nhà nghiên cứu về tiếng Việt thuộc các quốc gia mà tiếng Việt đang được giảng dạy như là ngôn ngữ thứ hai (chẳng hạn Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Pháp, Anh, Úc, Hàn Quốc, Lào.) đã bước đầu đưa ra khảo cứu về phương pháp dạy học tiếng Việt với tư cách là một ngoại ngữ. Điển hình là công trình của Hoàng Trọng Phiến (Dạy riếng Việt theo thói quen 10 dùng, Tiếng Việt và việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, 1976), Nguyễn Đình Hòa (Kinh nghiệm 40 năm giảng dạy tiếng Việt tại Mỹ, 1995), Nguyễn Quốc Hưng (Phương pháp dạy tiếng Việt như một ngôn ngữ thứ hai, Úc, 2012), Phan Văn Giưỡng (Dạy phát âm tiếng Việt cho sinh viên Úc, Kỷ yêu Hội nghị quốc tế “T6i khong hiéu: Improving Students’ Speaking Success in Vietnamese” tai Vién Ngoai vu, BO Ngoai giao Hoa Ki va Vién Dai hoc Maryland, Washington DC, 2013), Nguyễn Thị Sâm (Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học tiếng Việt ở các trường tiểu học tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, 2013),. Những công trình này tuy mới chỉ dừng lại ở việc đúc rút kinh nghiệm của bản thân người dạy qua thực tiễn dạy học tiếng Việt cho người nước ngoài, nhưng những chia sẻ của họ cũng đã giúp ích cho chúng tôi rất nhiều trong việc nghiên cứu đề xuất các dạng bài tập phát triển năng lực sử dụng từ ngữ tiếng Việt cho HVQS Lào - đối tượng người học mà luận án hướng tới. Ở Việt Nam, mặc đù dạy học tiếng Việt cho người nước ngoài đã có lịch sử từ hơn một thế kỷ trước, nhưng phương pháp dạy học tiếng Việt như một ngoại ngữ lại chưa thực sự được đầu tư, chú trọng.
Trước những năm 80 của thế kỷ XX, phần lớn, GV truyền thụ kiến thức theo kiểu vừa dạy vừa dò, thậm chí, nhiều người còn quan niệm sai lầm rằng chỉ cần biết tiếng Việt là có thể dạy được tiếng Việt. Do đó, hiệu quả dạy học chưa cao. Kiến thức mà HV thu nhận được thông qua những cách dạy như thế hoặc là thiếu hệ thống, hoặc là rất khó ứng dụng vì mang nặng tính hàn lâm và không hướng đến mục đích giao tiếp. Đến những năm 80 của thế kỷ XX, khi Bộ Giáo dục và Đào tạo có chủ trương đưa giáo viên ngoại ngữ sang Cămpuchia dạy tiếng Việt theo nguyện vọng của bạn, thì Khoa Tiếng Việt thuộc trường Đại học Tổng hợp Hà Nội mới được giao nhiệm vụ mở các khóa đào tạo ngắn hạn về tiếng Việt và phương pháp đạy học tiếng Việt.
Trong hơn một tháng, GV ngoại ngữ được tập huấn sơ lược và hướng dẫn tìm hiểu những tri thức cơ bản nhất về ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp tiếng Việt. Tuy việc này chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn, nhưng hiệu quả thu được lại đáng khích lệ. Nó có tác dụng định hướng cho các giáo viên không chuyên về tiếng Việt trong việc truyền thụ, giải thích nghĩa của từ cũng như các cấu trúc ngữ pháp tiếng Việt trong quá trình dạy học. 11 Hon 10 năm sau, Trường tiếng Việt cho người nước ngoài thuộc Viện Khoa học Xã hội thành phố Hồ Chí Minh cũng tổ chức một số khóa tập huấn ngắn hạn nhằm đào tạo GV tiếng Việt cho người nước ngoài.
Giáo sư Nguyễn Tài Cần, giáo sư Hoàng Trọng Phiến và một số chuyên gia có nhiều kinh nghiệm về dạy học tiếng Việt cho người nước ngoài được mời đến giảng bài. Thông qua những khóa học như thế, GV cũng đã phần nào xác định được đường hướng cụ thể, có cách thức, phương pháp rõ ràng hơn khi truyền thụ tiếng Việt đến với HV nước ngoài.