CHƯƠNG I TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG VÀ ỨNG DỤNG TRONG Y HỌC I. HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG 1. Định nghĩa Cách đây gần 3000 năm, người xưa đã nhận thấy sự vật luôn luôn có mâu thuẫn nhưng thống nhất với nhau, không ngừng vận động, biến hoá để phát sinh, phát triển và tiêu vong, gọi là Học thuyết âm dương. Trong Y học, học thuyết âm dương quán triệt từ đầu đến cuối, từ đơn giản đến phức tạp trong suốt quá trình cấu tạo cơ thể, sinh lý, bệnh lý, chẩn đoán, và các phương pháp chữa bệnh y học cổ truyền (thuốc, châm cứu, xoa bóp, khí công v.
Các quy luật cơ bản trong học thuyết âm dương 1. Âm dương đối lập với nhau. Đối lập là sự mâu thuẫn, chế ước và đấu tranh giữa hai mặt âm dương. Thí dụ: ngày và đêm, nước và lửa, ức chế và hưng phấn v.
Âm dương hỗ căn Hỗ căn là sự nương tựa lẫn nhau. Hai mặt âm dương tuy đối lập với nhau nhưng phải nương tựa lẫn nhau mới tồn tại được, mới có ý nghĩa. Cả hai mặt đều là tích cực của sự vật, không thể đơn độc phát sinh, phát triển được. Thí dụ: Có đồng hoá mới có dị hoá, hay ngược lại nếu không có dị hoá thì quá trình đồng hoá không tiếp tục được.
Có số âm mới có số dương. Hưng phấn và ức chế là quá trình tích cực của hoạt động vỏ não. Âm dương tiêu trưởng Tiêu là sự mất đi, trưởng là sự phát triển, nói lên sự vận động không ngừng, sự chuyển hoá lẫn nhau giữa hai mặt âm dương. Như khí hậu 4 mùa trong năm luôn thay đổi từ lạnh sang nóng, từ nóng sang lạnh, từ lạnh sang nóng là quá trình “âm tiêu dương trưởng” từ nóng sang lạnh là quá trình “dương tiêu âm trưởng” do đó có khí hậu mát, lạnh, ấm và nóng.
Sự vận động của hai mặt âm dương có tính chất giai đoạn, tới mức độ nào đó sẽ chuyển hoá sang nhau gọi là “dương cực sinh âm, âm cực sinh dương; hàn cực sinh nhiệt, nhiệt cực sinh hàn”. Như trong quá trình phát triển bệnh tật, bệnh thuộc phần dương (như sốt cao) có khi gây ảnh hưởng đến phần âm (như mất nước), hoặc bệnh có phần âm (mất nước, mất điện giải) tới mức độ nào đó sẽ ảnh hưởng đến phần dương (như choáng, trụy mạch gọi là thoát dương). Âm dương bình hành Hai mặt âm dương tuy đối lập, vận động không ngừng, nhưng luôn lặp lại được thế thăng bằng, thế quân bình giữa hai mặt. Sự mất thăng bằng giữa hai mặt âm dương nói lên sự mâu thuẫn thống nhất, vận động và nương tựa lẫn nhau của vật chất.
2 Từ 4 quy luật trên, khi vận dụng trong y học người ta còn thấy một số phạm trù sau: a) Sự đối lập tương đối và tuyệt đối của hai mặt âm dương: Sự đối lập giữa hai mặt âm dương là tuyệt đối, nhưng trong điều kiện cụ thể nào đó có tính chất tương đối. Thí dụ: hàn thuộc âm đối lập với nhiệt thuộc dương, nhưng lương (là mát) thuộc âm đối lập với ôn (là ấm) thuộc dương. Trên lâm sàng tuy sốt (là nhiệt) thuộc dương, nếu sốt cao thuộc lý dùng thuốc hàn, sốt nhẹ thuộc biểu dùng thuốc lương. b) Trong âm có dương và trong dương có âm: Âm và dương nương tựa lẫn nhau cùng tồn tại có khi xen kẽ vào nhau trong sự phát triển.
Như sự phân chia thời gian trong một ngày (24 giờ):ban ngày thuộc dương, từ 6h sáng đến 12 giờ trưa là dương của dương. Từ 12 giờ đến 18 giờ là phần âm của dương; ban đêm thuộc âm, từ 18 giờ - 24 giờ là phần âm của âm, từ 0 giờ đến 6 giờ là phần dương của âm. Trên lâm sàng, khi cho thuốc làm ra mồ hôi để hạ sốt, cần chú ý tránh cho ra mồ hôi nhiều gây mất nước và điện giải. Về triệu chứng thấy xuất hiện các chứng hư thực, hàn nhiệt lẫn lộn.
Về cấu trúc của cơ thể tạng thuộc âm như can, thận có can âm (can huyết), can dương (can khí), thận âm (thận thuỷ), thận dương (thận hoả) v. c)Bản chất và hiện tượng: Thông thường bản chất thường phù hợp với hiện tương, khi chữa bệnh người ta chữa vào bản chât bệnh: như bệnh hàn dùng thuốc nhiệt, bệnh nhiệt dùng thuốc hàn. Nhưng có lúc bản chất không phù hợp với hiện tượng gọi là sự “thật- giả” (chân -giả) trên lâm sàng, khi chẩn đoán phải xác định cho đúng bản chất để dùng thuốc chữa đúng nguyên nhân. Thí dụ: bệnh truyền nhiễm gây sốt cao (chân nhiệt) do nhiễm độc gây trụy mạch ngoại biên làm chân tay lạnh, ra mồ hôi lạnh (giả hàn) phải dùng thuốc mát lạnh để chữa bệnh.
- Bệnh ỉa chảy do lạnh (chân hàn) do mất nước, điện giải gây nhiễm độc thần kinh làm co giật, sốt (giả nhiệt) phải dùng các thuốc nóng, ấm để chữa nguyên nhân. Các quy luật âm dương, các phạm trù của nó được biểu hiện bằng một hình tròn có hai hình cong chia diện tích thành hai phần bằng nhau: một phần là âm, một phần là dương. Trong phần âm có nhân dương và trong phần dương có nhân âm. Ứng dụng trong y học 1.
Về cấu tạo cơ thể và sinh lý Âm: tạng, kinh âm, huyết, bụng, trong, dưới v. Dương: phủ, kinh dương, khí, lưng, ngoài, trên v. - Tạng thuộc âm, do tính chất trong âm có dương nên còn phân ra phế âm, phế khi; thận âm, thận dương; can huyết, can khí; tâm huyết, tâm khí. Phủ thuộc dương nhưng vì trong dương có âm nên có vị âm và vị hoả.
- Vật chất dinh dưỡng thuộc âm, cơ năng hoạt động thuộc dương. Về quá trình phát sinh và phát triển của bệnh tật a) Bệnh tật phát sinh ra do sự mất thăng bằng về âm dương trong cơ thể được biểu hiện bằng thiên thắng hay thiên suy: - Thiên thắng: dương thắng gây chứng nhiệt: sốt, mạch nhanh, khát nước, táo, nước tiểu đỏ; âm thắng gây chứng hàn: người lạnh, tay chân lạnh, mạch trầm, ỉa lỏng nước tiểu trong v. - Thiên suy: dương hư như các trường hợp não suy, hội chứng hưng phấn thần kinh giảm; âm hư: như mất nước, điện giải, hội chứng ức chế thần kinh giảm. b) Trong quá trình phát triển của bệnh, tính chất của bệnh còn chuyển hoá lẫn nhau giữa hai mặt âm dương.
Bệnh ở phần dương ảnh hưởng tới phần âm (dương thắng tắc âm bệnh). Thí dụ sốt cao kéo dài sẽ gây mất nước. Bệnh ở phần âm ảnh hưởng tới phần dương (âm thắng tắc dương bệnh). Thí dụ ỉa lỏng, nôn mửa kéo dài mất mước, điện giải làm nhiễm độc thần kinh, gây sốt, co giật thậm chí gây truỵ mạch (thoát dương).
c) Sự mất thăng bằng của âm dương gây ra những chứng bệnh ở vị trí khác nhau của cơ thể tuỳ theo vị trí đó ở phần âm hay dương. Dương thịnh sinh ngoại nhiệt: sốt, người và tay chân nóng, vì phần dương của cơ thể thuộc biểu, thuộc nhiệt. Âm thịnh sinh nội hàn: ỉa chảy, người sợ lạnh, nước tiểu trong dài vì phần âm thuộc lý thuộc hàn. Âm dư sinh nội nhiệt: như mất nước, tân dịch giảm gây chứng khát nước, họng khô, táo, nước tiểu đỏ v.
Dương hư sinh ngoại hàn: sợ lạnh, tay chân lạnh vì phần dương khí ở ngoài bị giảm sút. Về chẩn đoán bệnh tật a) Dựa vào 4 phương pháp khám bệnh: nhìn (vọng), nghe (văn), hỏi (vấn), sờ nắn, xem mạch (thiết) để khai thác triệu chứng thuộc hàn hay nhiệt, hư hay thực của các tạng phủ kinh lạc. b) Dựa vào bát cương để đánh giá độ nông sâu của bệnh, tính chất của bệnh, trạng thái người bệnh và xu thế chung nhất của bệnh tật (biểu lý, hư thực, hàn nhiệt, âm dương) trong đó âm và dương là 2 cương lĩnh tổng quát nhất gọi là tổng cương: thường là bệnh ở biểu, thực, nhiệt thuộc dương; bệnh ở lý, hư, hàn thuộc âm. c) Dựa vào tứ chẩn để khai thác triệu chứng và căn cứ vào bát cương bệnh tật được quy thành các hội chứng thiên thắng hay thiên suy về âm dương của tạng phủ, kinh lạc.
Về chữa bệnh và các phương pháp chữa bệnh a) Chữa bệnh là điều hoà lại sự mất thăng bằng về âm dương của cơ thể tuỳ theo tình trạng hư thực, hàn, nhiệt của bệnh bằng các phương pháp khác nhau: thuốc, châm cứu, xoa bóp, khí công v. b) Về thuốc được chia làm hai loại: - Thuốc lạnh, mát (hàn, lương) thuốc âm để chữa bệnh nhiệt thuộc dương. - Thuốc nóng, ấm (nhiệt, ôn) thuốc dương để chữa bệnh nhiệt thuộc âm. 4 c) Về châm cứu: - Bệnh nhiệt dùng châm, bệnh hàn dùng cứu; bệnh hư thì bổ, bệnh thực thì tả.
Bệnh thuộc tang (thuộc âm) thì dùng các huyệt Du sau lưng (thuộc dương); bệnh thuộc phủ (thuộc dương) thì dùng các huyệt Mộ ở ngực, bụng (thuộc âm), theo nguyên tắc “theo dương dẫn âm, theo âm dẫn dương”. HỌC THUYẾT NGŨ HÀNH 2.Định nghĩa Học thuyết ngũ hành là học thuyết âm dương, liên hệ cụ thể hơn trong việc quan sát, quy nạp sự liên quan của các sự vật trong thiên nhiên. Trong y học, học thuyết ngũ hành được ứng dụng để quan sát quy nạp và nêu lên sự tương quan trong hoạt động sinh lý các tạng phủ, để chẩn đoán bệnh tật, để tìm tính năng và tác dụng thuốc, để tiến hành công tác bào chế thuốc men. Nội dung của học thuyết ngũ hành 2.1 Ngũ hành là gì? Người xưa thấy có 5 loại vật chính: kim (kim loại), mộc (gỗ), thuỷ (nước), hoả (lửa), thổ (đất) và đem các hiện tượng trong thiên nhiên và trong cơ thể con người xếp theo 5 loại vật chất trên gọi là ngũ hành.
Ngũ hành còn có ý nghĩa nữa là sự vận động, chuyển hoá của các chất trong thiên nhiên và của tạng phủ trong cơ thể. Sự quy nạp ngũ hành trong thiên nhiên và trong cơ thể con người Hiện tượng Ngũ hành Mộc Hoả Thổ Kim Thuỷ Vật chất Gỗ, cây Lửa Đất Kim loại Nước Màu sắc Xanh Đỏ Vàng Trắng Đen Vị Chua Đắng Ngọt Cay Mặn Mùa Xuân Hạ Cuối hạ Thu Đông Phương Đông Nam Trung ương Tây Bắc Tạng Can Tâm Tỳ Phế Thận Phủ Đởm Tiểu Vị Đại trường Bàng quang trường Ngũ thể Cân Mạch Thịt Da lông Xương, tuỷ Ngũ quan Mắt Lưỡi Miệng Mũi Tai Tình chí Giận Mừng Lo Buồn Sợ 2.