đặt vấn đề định khu chức năng tâm lý trong não. Song có nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề này: Thế kỉ thứ V trước công nguyên, có quan niệm cho rằng: lý trí khu trú ở trong đầu (não bộ), tình cảm ở ngực (tim), lòng đam mê ở bụng (gan). Vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, một số nhà thần kinh học cho rằng: mỗi chức năng tâm lý được định khu ở một vùng trong não: có vùng trí nhớ, vùng tưởng tượng, vùng tư duy. Thậm chí có người còn nói trong não có các mấu “tư tưởng”, mấu “yêu đương”.
Chẳng hạn học thuyết não tướng học của nhà bác học Đức Ph.Galơ cho rằng: tâm lý gắn chặt với một khu nhất định trên não, tạo nên các vùng “kín đáo”, “tế nhị”, “hung hăng”. “tự ái”, “thận trọng”, “khéo léo”, “yêu đời”… Vỏ não có nhiều miền (hoặc thùy). Mỗi miền này là cơ sở vật chất của các hiện tượng tâm lý tương ứng và có thể tham gia vào nhiều hiện tượng tâm lý. Các miền phục vụ cho một hiện tượng tâm lý tập hợp thành một hệ thống chức năng.
Hệ thống chức năng này hoạt động một cách cơ động, tùy thuộc vào yêu cầu của chủ thể, vào đặc điểm không gian, thời gian và không có tính bất di bất dịch. Trong não có sự “phân công” rất chặt chẽ giữa các vùng của võ não như: vùng chẩm gọi là vùng thị giác, vùng thái dương 4 gọi là vùng thính giác, vùng đỉnh gọi là vùng vận động, vùng trung gian giữa thái dương và đỉnh là vùng định hướng không gian và thời gian. Ở người còn có các vùng chuyên biệt như vùng nói (Broca), vùng nghe hiểu tiếng nói (Vecnicke), vùng nhìn hiểu chữ viết, vùng viết ngôn ngữ. Nguyên tắc “phân công” kết hợp chặt chẽ với nguyên tắc “liên kết” rất nhịp nhàng, tạo hên hệ thống chức năng cơ động nói trên trong từng chức năng tâm lý.
Các hệ thống chức năng này được thực hiện bằng nhiều tế bào não từ các vùng, các khối của toàn bộ não tham gia: khối năng lượng bảo đảm trương lực, khối thông tin bảo đảm việc thu nhận, xử lý và gìn giữ thông tin; khối điều khiển bảo đảm việc chương trình hóa, điều khiển, điều chỉnh, kiểm tra. Các khối này liên kết chặt chẽ với nhau, cùng tham gia thực hiện hoạt động tâm lý. Phản xạ có điều kiện và tâm lý Tất cả các hiện tượng tâm lý đều có cơ sở tự nhiên là phản xạ có điều kiện4. Hoạt động phản xạ có điều kiện giúp cơ thể thích ứng với môi trường luôn thay đổi.
Vào thế kỉ thứ XVII R. Decartes là người đầu tiên nêu ra khái niệm “phản xạ” và dùng phản xạ để giải thích hoạt động tâm lý. Tuy nhiên, Decartes chỉ mới nói đến hoạt động vô thức gắn với phản xạ. Xetrenov, nhà sinh lý học Nga đã mở rộng nguyên tắc phản xạ đến toàn bộ hoạt động của não.
Năm 1863, ông viết: “Tất cả các hiện tượng tâm lý, kể cả có ý thức lẫn vô thức, về nguồn gốc đều là phản xạ”. Theo ông phản xạ có 3 khâu chủ yếu: - Khâu đầu tiên là quá trình nhận kích thích bên ngoài, biến thành hưng phấn theo đường hướng tâm dẫn truyền vào não; - Khâu giữa là quá trình thần kinh trên não và tạo ra hoạt động tâm lý; - Khâu kết thúc dẫn truyền hưng phấn từ trung ương theo đường li tâm (dẫn ra) gây nên phản ứng của cơ thể. Pavlov kế tục sự nghiệp của I. Xetrenov, qua nhiều năm thực nghiệm đã sáng lập ra học thuyết phản xạ có điều kiện - cơ sở sinh lý của hiện tượng tâm lý.
Đặc điểm của phản xạ có điều kiện: - Phản xạ có điều kiện là phản xạ tự tạo trong đời sống từng cá thể để thích ứng với môi trường luôn luôn thay đổi, là cơ sở sinh lý của hoạt động tâm lý. - Cơ sở giải phẫu sinh lý của phản xạ có điều kiện là vỏ não và hoạt động bình thường của vỏ não. - Quá trình diễn biến của phản xạ có điều kiện là quá trình thành lập đường liên hệ thần kinh tạm thời giữa trung khu nhận kích thích có điều kiện và đại diện của trung 4 Nguyễn Quang Uẩn. Tâm lý học đại cương, NXB ĐH sư phạm 5 khu trực tiếp thực hiện phản xạ không điều kiện.
- Phản xạ có điều kiện thành lập với kích thích bất kì, đặc biệt ở người, tiếng nói là một loại kích thích đặc biệt có thể lập bất cứ một phản xạ có điều kiện nào. - Phản xạ có điều kiện báo hiệu gián tiếp kích thích không điều kiện sẽ tác động vào cơ thể. Tất cả các hiện tượng tâm lý đều có cơ sở sinh lý là phản xạ có điều kiện. Hoạt động phản xạ có điều kiện giúp cơ thể thích ứng với môi trường luôn luôn thay đổi.
Hệ thống tín hiệu thứ hai và tâm lý Hệ thống tín hiệu bao gồm những tín hiệu do các sự vật hiện tượng và các thuộc tính của chúng kể cả các hình ảnh do các tín hiệu đó tác động vào não gây ra. Hệ thống tín hiệu I là cơ sở sinh lý của hoạt động cảm tính trực quan, tư duy cụ thể và cảm xúc cơ thể. Hệ thống tín hiệu này có cả ở người và động vật. Hệ thống tín hiệu II là những tín hiệu ngôn ngữ (bao gồm tiếng nói và chữ viết), là tín hiệu của tín hiệu.
Hệ thống tín hiệu II chỉ có ở con người, nó là cơ sở của tư duy ngôn ngữ, ý thức, tình cảm và các chức năng tâm lý cao cấp ở người. Hai hệ thống tín hiệu có quan hệ chặt chẽ với nhau. Hệ thống tín hiệu thứ nhất là cơ sở của hệ thống tín hiệu thứ hai và hệ thống tín hiệu thứ hai có tác động trở lại, nhiều khi có những tác động rất lớn đến hệ thống tín hiệu thứ nhất. Quy luật hoạt động thần kinh cấp cao và tâm lý Sự nảy sinh, diễn biến và tác động qua lại lẫn nhau giữa hai quá trình thần kinh cơ bản là hưng phấn và ức chế diễn ra theo các quy luật xác định, được gọi là các quy luật hoạt động thần kinh cấp cao.
Các quy luật này chính là cơ sở tự nhiên của sự hình thành và phát triển tâm lý người. Quy luật hoạt động theo hệ thống Trong cuộc sống, hoạt động cá thể với những điều kiện quen thuộc, ổn định thì các kích thích tác động nối tiếp nhau theo một trật tự nhất định và trong não hình thành một hệ thống phản xạ có điều kiện để phản ứng trả lời theo một trật tự nhất định. Hiện tượng này được gọi là định hình động lực, gọi tắt là động hình. Nói một cách khác, động hình là hệ thống phản xạ có điều kiện hoạt động kế tiếp nhau theo một trật tự nhất định lặp đi lặp lại nhiều lần, được xảy ra do một kích thích tác động.
Động hình là cơ sở sinh lý thần kinh của các kĩ xảo và thói quen. Động hình có thể bị xoá bỏ đi hoặc được xây dựng mới (khi cá thể rơi vào điều kiện sống mới). Quy luật lan toả và tập trung Hưng phấn hay ức chế nảy sinh ở một điểm trong hệ thần kinh, từ đó lan sang các điểm khác của hệ thần kinh. Đó là hưng phấn và ức chế lan toả.
Sau đó, hai quá trình 6 thần kinh này lại tập trung về điểm ban đầu. Đó là hưng phấn và ức chế tập trung. Nhờ có hưng phấn lan toả mà dễ dàng thành lập các dường liên hệ thần kinh tạm thời; con người có thể liên tưởng từ sự việc này đến sự việc khác, có thể nhận thấy vật này mà nhớ tới vật kia… Nhờ có ức chế lan toả mà có hiện tượng thôi miên. Nhờ có hưng phấn tập trung, con người có khả năng chú ý vào một hay một vài đối tượng nhất định.
Nhờ có ức chế từ lan toả đến tập trung, con người có thể từ trạng thái ngủ chuyển sang trạng thái thức. Quy luật cảm ứng qua lại Cảm ứng là sự gây ra trạng thái đối lập của một quá trình hưng phấn hay ức chế. Quy luật này có các dạng biểu hiện như sau: Cảm ứng qua lại đồng thời (giữa nhiều trung khu) là hưng phấn ở điểm này gây ra ức chế ở điểm kia hay ngược lại. Ví dụ: khi tập trung đọc sách thì không nghe thấy tiếng chuyện trò của người xung quanh.
Cảm ứng qua lại tiếp diễn là hưng phấn ở trong một điểm chuyển sang ức chế ở chính điểm đó hay ngược lại. Ví dụ: Khi học sinh ngồi học, các trung khu vận động ít nhiều giảm bớt hoạt động; khi giải lao, học sinh thích hoạt dộng tay chân. Cảm ứng dương tính là hiện tượng hưng phấn làm cho ức chế sâu hơn hay ngược lại, ức chế làm hưng phấn mạnh hơn. Ví dụ: Khi một người không cử động và nín thở thì sẽ nghe được rõ hơn.
Cảm ứng âm tính là khi hưng phấn gây ra ức chế, ức chế làm giảm hưng phấn và ngược lại. Ví dụ: Sợ hãi làm cho ta lýu lưỡi lại không nói được. Quy luật phụ thuộc vào cường độ kích thích Ở vỏ não bình thường, sự phản ứng phụ thuộc vào độ mạnh, yếu của kích thích tác động, nghĩa là kích thích có cường độ lớn có thể gây ra phản ứng mạnh và kích thích có cường độ nhỏ gây ra phản ứng yếu trong phạm vi con người có thể cảm thụ được. Như vậy, độ lớn của phản ứng tỉ lệ thuận với cường độ của kích thích tác động trong phạm vi con người có thể phản ứng lại được.
Quy luật này chỉ đúng khi cường độ kích thích đủ để gây ra phản ứng. Quy luật này phù hợp với hoạt động của não động vật bậc cao và người. Tuy nhiên, vì con người có ngôn ngữ nên độ lớn phản ứng của người phụ thuộc nhiều vào ý nghĩa của kích thích đối với sự tồn tại và phát triển của cơ thể. Cơ sở xã hội của tâm lý người Với cơ chế lĩnh hội, sự hình thành phát triển tâm lý người không chỉ bị chi phối bởi các quy luật tự nhiên của thế giới, mà chủ yếu là chịu sự chế ước, quy định bởi những quy luật xã hội - lịch sử, trong đó có các mối quan hệ xã hội, nền văn hóa xã hội, 7 các phương thức hoạt động và giao tiếp của con người trong xã hội.