CHƯƠNG 1 Câu hỏi tự luận Câu 1. Giải thích tầm quan trọng của môn học. Chứng minh tế bào là đơn vị cấu chúc, chức năng và di truyền cơ bản của cơ thể con người. Phân biệt các loại mô trong cơ thể con người.
Chứng minh cơ thể người là một khối thống nhất và là hệ thống tự điều chỉnh. Phân biệt các đặc điểm giữa cơ thể trẻ em và cơ thể người trưởng thành. Câu hỏi trắc nghiệm Câu 1. Cấu trúc nào dưới đây không có trong tế bào của cơ thể người? A.
Nhiễm sắc thể. Toàn bộ các mô trong cơ thể người phân thành: A. Ba nhóm: mô liên kết, mô cơ và mô thần kinh. Bốn nhóm: mô thượng bì, mô liên kết, mô cơ và mô thần kinh.
Năm nhóm: mô thượng bì, mô xương, mô cơ , mô liên kết và mô thần kinh. Nhiều nhóm khác nhau. Vai trò cơ bản nhất của tế bào chất là gì? A. Bảo vệ nhân.
Nơi chứa đựng tất cả thông tin di truyền của tế bào. Nơi diễn ra mọi hoạt động sống của tế bào. Nơi thực hiện trao đổi chất trực tiếp của tế bào với môi trường. Trong tế bào bộ phận nào đóng vai trò quan trọng nhất? A.
Màng tế bào: giữ vai trò bảo vệ tế bào và chọn lọc các chất trong sự trao đổi chất. Tế bào chất: nơi diễn ra mọi hoạt động của tế bào. Nhân: trung tâm điều khiển mọi hoạt động sống của tế bào. Ty thể: giữ vai trò hô hấp cung cấp năng lượng cho các hoạt động sống của tế bào.
SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CƠ THỂ TRẺ EM MỤC TIÊU Sau khi học xong chương này, sinh viên phải có khả năng: 1. Phân tích được khái niệm về sinh trưởng và phát triển, từ đó nắm được các quy luật của sự sinh trưởng và phát triển của cơ thể. Nêu được khái niệm và phân tích được gia tốc phát triển của cơ thể trẻ em. Phân biệt được các chỉ số đánh giá sự phát triển thể lực của cơ thể trẻ em.
Giải thích được ý nghĩa và cách sử dụng biểu đồ tăng trưởng. Phân tích được các đặc điểm phát triển của các thời kỳ của cơ thể trẻ em. Tính quy luật về sự sinh trưởng và phát triển của cơ thể Sự sinh trưởng là quá trình tăng liên tục khối lượng của cơ thể bằng cách tăng số lượng tế bào của cơ thể, dẫn đến tăng khối lượng mô, cơ quan và toàn bộ cơ thể. Kết quả là xuất hiện sự thay đổi về mặt kích thước.
Trong quá trình sinh trưởng số lượng tế bào, trọng lượng cơ thể và hệ số nhân chủng được tăng lên. Một số cơ quan trong cơ thể như xương, phổi,. sự sinh trưởng được thực hiện đặc biệt nhờ việc tăng số lượng tế bào. Một số khác như cơ, mô thần kinh,.
có quá trình tăng kích thước chính tế bào. Sự phát triển là một quá trình thay đổi về mặt số lượng và chất lượng xảy ra trong cơ thể. Sự phát triển của con người là một quá trình liên tục, diễn ra trong suốt cả cuộc đời. Ở mỗi một giai đoạn phát triển cơ thể, cơ thể đứa trẻ là một chỉnh thể hài hòa với những đặc điểm vốn có đối với giai đoạn tuổi đó.
Mỗi một giai đoạn tuổi đều chứa đựng các vết tích của giai đoạn trước, những cái hiện có của giai đoạn này và những mầm mống của giai đoạn sau. Như vậy, mỗi một lứa tuổi là một hệ thống cơ động độc đáo, ở đó vết tích của giai đoạn trước dần dần bị xoá bỏ, cái hiện tại và tương lai được phát triển, rồi cái hiện tại lại trở thành cái quá khứ và mầm mống của cái tương lai lại trở thành cái hiện tại, rồi những phẩm chất mới lại được sinh - những mầm mống của cái tương lai. Giáo dục phải xác định được cái hiện có và dựa trên mầm mống của cái tương lai mà tổ chức việc dạy học và giáo dục cho thế hệ trẻ. Sự phát triển trước hết được thể hiện ở sự tăng trưởng hay lớn lên của cơ thể, của các cơ quan riêng lẻ và ở sự tăng cường các chức năng của chúng.
Sự tăng trưởng của các cơ quan khác nhau diễn ra không đồng đều và không đồng thời, vì vậy mà tỷ lệ cơ thể bị thay đổi. Nhịp độ tăng trưởng của cơ thể cũng không đồng đều. Chẳng hạn, ở tuổi dậy thì cơ thể lớn nhanh, nhưng sau đó thì chậm lại. Đặc trưng của sự tăng trưởng là sự thay đổi về số lượng những dấu hiệu vốn có của cơ thể, về sự tăng lên hay giảm đi những dấu hiệu đó.
Đặc trưng của sự phát triển là những biến đổi về chất của cơ thể, là sự xuất hiện những dấu hiệu và thuộc tính được hình thành ngay trong quá trình tăng trưởng. Quá trình phát triển này diễn ra một cách từ từ, liên tục nhưng đồng thời cũng có những bước nhảy vọt, những “ngắt quãng của sự liên tục”. Những giai đoạn đầu tiên của quá trình này diễn ra khi còn là bào thai trong bụng mẹ. Quá trình phát triển của cơ thể đi từ đơn giản đến phức tạp, từ chỗ chưa phân hóa đến phân hóa.
Nó phân chia các bộ phận, các cơ quan, các yếu tố và hợp nhất chúng lại thành một toàn bộ mới, một cơ cấu mới. Sự hình thành những cơ cấu mới là sự xuất hiện những phẩm chất mới của con người đang phát triển, nó diễn ra ở cả mặt hình thái lẫn cả mặt chức năng, sinh hóa, sinh lý và tâm lý. Sự phát triển cơ thể con người được biểu hiện qua các chỉ số đo người: chiều cao, cân nặng, vòng ngực, chiều rộng của vai,. Trong đó, chiều cao và cân nặng là hai chỉ số cơ bản.
Chiều cao tăng lên rõ rệt trong thời kỳ bú mẹ và trong thời kỳ đầu của tuổi nhà trẻ. 16 Sau đó nó lại chậm lại ít nhiều. Lúc 6 - 7 tuổi, chiều cao lại tăng nhanh và đạt tới 7 - 10 cm trong 1 năm. Đó là thời kỳ vươn dài người ra.
Sau đó, lúc 8 - 10 tuổi thì sự tăng trưởng bị chậm lại, hằng năm chỉ đạt 3 - 5 cm (thời kỳ tròn người), đến lúc bắt đầu dậy thì (11 - 15 tuổi) lại được tiếp tục tăng nhanh, từ 5 - 8 cm trong 1 năm (thời kỳ thứ hai của sự vươn dài người ra). Cân nặng: giữa chiều cao và cân nặng không có sự phụ thuộc theo một tỷ lệ nghiêm ngặt nào, nhưng thông thường trong cùng một lứa tuổi thì những trẻ cao hơn có cân nặng lớn hơn. Nhịp độ tăng trọng lớn nhất ở năm đầu của đời sống. Tới cuối năm thứ nhất thì cân nặng được tăng lên 3 lần.
Sau đó cân nặng tăng thêm trung bình mỗi năm 2 kg. Một số cơ quan tăng tỷ lệ thuận với khối lượng cơ thể. Ví dụ: tim tăng 15 lần, số tăng 35 - 40 lần so với mới sinh. Một số cơ quan tăng nhanh ngay trong thời kỳ phát triển bào thai và khối lượng của chúng chỉ tăng 3 - 4 lần sau khi sinh.
Ví dụ: trẻ não sơ sinh nặng 390 g, còn não của người lớn 1. Có những cơ quan khối lượng của chúng hoàn toàn không đổi sau khi sinh. Ví dụ như cơ quan thính giác và các ống bán khuyên nằm trong xương thái dương. Mỗi thời kỳ lứa tuổi có những đặc điểm phát triển cá nhân.
Chúng thay đổi và phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe, điều kiện và mức độ phát triển của hệ thần kinh. Gia tốc phát triển của cơ thể trẻ em 2. Khái niệm Gia tốc sinh học là toàn bộ những biến đổi có liên quan tới mặt sinh học của sự phát triển con người. Gia tốc sinh học có liên quan đến các chỉ số phát triển hình thái và chức năng của cơ thể, trước hết là chỉ số về chiều cao, cân nặng,.
Gia tốc xã hội là sự tăng khối lượng tri thức của trẻ em so với những trẻ em cùng độ tuổi ở 40 - 50 năm trước đây. Về chiều cao và cân nặng - Sự gia tăng về chiều cao diễn ra ở tất cả mọi lứa tuổi. Theo nghiên cứu của Trường Đại học Y khoa trên trẻ Việt Nam: + Trẻ năm đầu tăng 23 - 25 cm. + Năm thứ hai: 10 cm.
+ Năm thứ ba: 8 cm. + Vào từ 7 - 12 tuổi mỗi năm tăng trung bình 3 - 4 cm. - Sự gia tăng về trọng lượng cũng được thể hiện rất rõ rệt. Theo nghiên cứu của Trường Đại học Y khoa trên trẻ Việt Nam: + Trẻ 6 tháng nặng gấp đôi.
+ Từ 2 tuổi mỗi năm tăng thêm 2 kg. + Từ 7 - 12 tuổi mỗi năm tăng 1 - 1,8 kg; 14 - 16 tuổi mỗi năm tăng từ 3 - 3,6 kg. Tuổi dậy thì tăng mỗi năm 3 - 5 kg. Sự tăng trọng lượng như vậy không phải là kết quả của gia tốc phát triển mà là do dinh dưỡng quá dư thừa gây nên (vì sự tăng trọng lượng lớn hơn nhiều so với sự tăng chiều cao).
Hiện tượng béo phì ở bất kỳ lứa tuổi nào cũng không có lợi (đặc biệt là ở trẻ em) vì nó làm cho quá trình trao đổi chất của tế bào bị biến đổi mạnh mẽ, từ đó để gây nên các bệnh như tăng huyết áp, đái tháo đường, xơ vữa động mạch,. Sự cốt hóa của xương Sự cốt hóa của xương bàn tay diễn ra sớm hơn 1 - 2 năm so với năm 1936. Sự thay 17 thế răng sữa bằng răng vĩnh viễn cũng được gia tăng với tốc độ như vậy. Về mặt sinh dục Kỳ hạn của tuổi dậy thì được thay đổi cùng một lúc với gia tốc phát triển, thường sớm hơn 2 - 3 năm so với hồi đầu thế kỉ XX.
Trước đây thời điểm xuất hiện kinh nguyệt lần đầu thường xảy ra ở em gái lúc 14 tuổi. Từ năm 1959 trở lại đây lần có kinh đầu tiên thường thấy ở các em gái 12 - 14 tuổi. Còn hiện nay thời điểm có kinh lần đầu thường thấy lúc 11 - 13 tuổi. Qua nghiên cứu người ta thấy thời gian sinh đẻ của phụ nữ hiện nay kéo dài hơn trước kia khoảng 3 năm.
Thời kỳ mãn kinh của phụ nữ hiện nay xuất hiện muộn hơn so với trước kia. Nếu trước kia thời kỳ mãn kinh xuất hiện lúc 45 tuổi, còn bây giờ lúc 48 - 50 tuổi.