chương 1, chương 3. Nguyễn Thị Yến, ThS. Nguyễn Thị Nhung biên soạn chương 2 và chuơng 4. Phạm Thị Lý, ThS.
Phan Thị Vân Giang biên soạn chương 5. Nguyễn Thị Yen, TS. Trần Văn Quyết biên soạn chương 6. Mặc dù đã có nhiều cố gắng ưong việc lựa chọn, tiếp thu thành tựu của các tài liệu trong và ngoài nước, cũng như cập nhật các số liệu thực tiễn, nội dung bám sát đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, song giáo trình cũng không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót.
Tập thể tác giả mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc để hoàn thiện thêm giáo trình cho những lần tái bản sau. Tập thể tác giả. 12 Chưoiig 1 TỎNG QUAN VÈ PHÁT TRIỂN KINH TÉ Sản xuất của cải vật chất và cung ứng các dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu tồn tại của con người như ăn, mặc, ở, đi lại, học tập, chữa bệnh, giải trí. là cơ sở tồn tại và phát triển của xã hội loài người.
Bởi vậy, từ xưa đến nay, sự tiến bộ của nền sản xuất xã hội trờ thành mối quan tâm hàng đầu của mọi quốc gia, mọi dân tộc. Sự tiến bộ đó liên quan tới hai khái niệm cơ bàn: tăng trưởng và phát triển kinh tế. Tăng trường và phát triển kinh tế là mục tiêu đầu tiên của tất cả các nước trên thế giới, là thước đo chù yếu về sự tiến bộ ứong mỗi giai đoạn của các quốc gia. Điều này càng có ý nghĩa quan ừọng đối với các nước đang phát triển ứong quá trình theo đuổi mục tiêu tiến kịp và hội nhập với các nước phát triển.
Tăng trư ỏng kinh tế 1. Khái niệm về tăng trưởng kinh tế Có những quan điểm khác nhau về khái niệm tăng trường kinh tế, tuỳ theo góc độ tiếp cận. Trước hết, tăng trưởng kinh tế được 13 quan niệm là sự gia tăng về lượng. Điều đó có nghĩa là, tăng trường kinh tế là kết quả của tái sàn xuất mở rộng theo chiều rộng tức là đầu tư thêm tư liệu sản xuất và sức lao động; và theo chiều sâu bàng cách ứng dụng những thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến, nâng cao tri thức, trình độ tay nghề, tính kỳ luật cho người lao động.
Bên cạnh đó, tăng truờng kinh tế còn được hiểu theo cách thứ hai. Tăng trường kinh tế là sự gia tăng của các yếu tố đầu vào (vốn, lao động, tài nguyên. Hay tăng trưởng kinh tế còn được quan niệm là sự gia tăng cùa thu nhập bình quân trên đầu người. Vậy tăng trưởng kinh tế có thể hiểu là sự tăng thêm (hay gia tăng) về quy mô sản lượng của nền kinh tế ứong một thời kỳ nhất định (thuờng là một năm).
Đó là kết quả của tất cả các hoạt động sản xuất và dịch vụ mà nền kinh tế tạo ra. Từ những quan niệm ưên cho thấy, tăng trường kinh tế có điểm chung là đều đề cập đến sự gia tăng năng lực của nền sàn xuất. Bời vậy, tăng trưởng kinh tế có thể trình bày bằng đường giới hạn khả năng sản xuất. Khi đường giới hạn khả năng sản xuất dịch chuyển ra phía ngoài có nghĩa là nền kinh tế tăng trưởng.
Xót trên góc độ kinh tc, tăng trưởng kinh tc có lililí hai mặt. lợi ích và chi phí. Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế có rất nhiều lợi ích. Từ những quan niệm và nhận thức về tăng trường kinh tế ừên đây, có thể thấy ngay rằng, tăng trưởng kinh tế là cơ sở, là điều kiện để cải thiện và nâng cao đời sống của dân cư.
Tăng trường kinh tế là tiền đề quan ứọng bậc nhất để phát triển các mặt khác của đời sống kinh tế - xã hội như: khoa học, giáo dục, y tế, thể dục thể thao. Do những lợi ích đó, tăng trưởng kinh tế là một trong những mục tiêu cần thiết với tất cả các quốc gia. Với các nước nghèo, lạc hậu, tăng trường 14 kinh tế càng trở nên quan trọng vì mức thu nhập, mức sống của dân cư thấp, nhiều mặt của đời sống kinh tế xã hội còn ở trình độ lạc hậu, tăng trường kinh tế càng trở thành động lực cần thiết cho sự phát triển kinh tế xã hội. Thứ hai, tăng trưởng kinh tế cần chi phí.
Nền kinh tế tăng trưởng cao, nhu cầu khai thác và sử dụng tài nguyên càng lớn, nguồn tài nguyên càng sớm bị cạn kiệt. Quy mô khai thác và sử dụng tài nguyên lớn, môi trường bị tổn hại và ô nhiễm. Nen kinh tế tăng trường nhanh, làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội như: sự phân hoá giàu nghèo, sự phát triển của các loại tội phạm và tệ nạn xã hội. Vậy khi nền kinh tế tăng trưởng nhanh, xã hội sẽ mất nhiều chi phí đề bù đắp cho những tổn hại đó.
Các dạng công thức tính tốc độ tăng trưởng kinh tế - Các ký hiệu sử dụng để tính toán tăng trường kinh tế: 0, t : Ký hiệu cho thời điểm gốc (0) và thời điềm hiện tại (t) Y : Ký hiệu của chỉ tiêu sản lượng quốc gia p : Ký hiệu cho mức thu nhập bình quân đầu người (PCI) - Xác định mức tăng trưởng tuyệt đối: + Mức tăng trưởng sản lượng: AY = Y, - Y0 + Mức tăng trường PCI: AP = P( - p0 - Nếu so sánh mức tăng trưởng tuyệt đối với một đại lượng ở thời điểm gốc sẽ cho ta khái niệm tốc độ tăng trưởng: + Tốc độ tăng trưởng sản lượng (gy): 15 + Tốc độ tăng trường thu nhập bình quân đầu nguời (gp): + Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trong một giai đoạn (thời điểm 0 -» thời điềm t) gy= ” 1 - 1 (%/năm) « - 1. ĨẼL gp = VPI - 1 (%/năm) + Mối quan hệ giữa tăng trường GDP, hoặc GNI và dân số: gp = gy * gD với gD: Tốc độ gia tăng dân số (%) - Quy tắc 70: Neu một biến số nào đó tăng với tỷ lệ x%/ năm, 70 biến sô đó SC tăng gấp đôi trong vòng —— (năm). X Công thức trên cho thấy điều kiện để đảm bảo cho mức thu nhập bình quân đầu người có tăng trường (nếu xét trong ngắn hạn) thì tốc độ tăng sản lượng quốc gia phải luôn nhanh hơn tốc độ gia tăng dân số. Các quốc gia muốn duy trì tăng trường kinh tế ổn định thì cần tác động là gia tăng thích hợp.
Do đó, các nước phát triển tác động để làm tăng lượng cầu để cung được tăng. Chẳng hạn như tác động vào nhu cầu tiêu dùng quần áo, thời ừang gia tăng để cung loại hàng hoá này tăng lên. Khái niệm phát triển kinh tế 1. Phát triển kinh tế a.
Phát íriên kinh tế Phát triền kinh tế là sự tăng lên về số lượng và sự thay đồi về chất lượng cùa đời sống kinh tế - xã hội. Hay, phát triển kinh tế là sự tăng lên về cơ sờ vật chất và sự biến đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, cuộc sống cùa người dân ngày càng được cải thiện và nâng cao. Vậy phát triển kinh tế có thể hiểu là một quá trình lớn lên (hay tăng tiến) về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sàn lượng (tăng trưởng kinh tế) và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội.
Phát triển kinh tế bao gồm những nội dung chù yếu sau: Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế. Muốn phát triển các mặt của đời sống kinh tế - xã hội trước hết xã hội phải có thêm của cải, tức là năng lực cùa nền sản xuất phải được mở rộng hay nền kinh tế phải tăng trường. Những nước có nền kinh tế phát triển trước hết nền kinh tế phải tăng trường với tốc độ cao trong thời gian dài. Vì vậy, các nước nghèo, lạc hậu muốn tạo ra sự phát triển kinh tế phải coi tăng trưởng kinh tế là mục tiêu số 1 trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.
Thử hai, cơ cấu các ngành kinh tế thay đổi theo hướng tiến bộ. Theo cách phân chia hiện đại, nền kinh tế gồm 3 khu vực: Khu vực I bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và khai khoáng; Khu vực II gồm có công nghiệp và xây dựng; Khu vực III là khu vực dịch vụ bao gồm các ngành như ngân hàng, bảo hiểm, thương mại, giao thông vận tải, thông tin liên lạc, bưu điện. Khu vực I có đặc điểm: phụ thuộc nặng nề vào tự nhiên, có chu kỳ sinh trưởng và phát ưiển dài, năng suất lao động và hiệu Quả kinh tế thấp. Do đó, 17 ữong cơ cấu các ngành kinh tế, nếu khu vực I càng chiếm tỷ trọng lớn, khu vực II và III càng chiếm tỷ trọng nhỏ bao nhiêu thì nền kinh tế càng phụ thuộc vào tự nhiên bấy nhiêu, năng suất lao động và hiệu quả của nền sản xuất xã hội thấp bấy nhiêu.
Và ngược lại, khu vực I chiếm tỷ trọng càng nhỏ, nền kinh tế càng ít phụ thuộc vào tự nhiên, năng suất lao động và hiệu quả của nền sản xuất xã hội càng cao. Bởi vậy, cơ cấu các ngành kinh tế thay đổi theo hướng: khu vực I giảm tương đối về tỷ trọng, khu vực II và III tăng lên được coi là tiến bộ và sự thay đổi đó là một nội dung của phát triển kinh tế. Thứ ba, những tiến bộ kinh tế chủ yếu phải xuất phát tò động lực nội tại. Nền kinh tế tăng trưởng, cơ cấu các ngành kinh tế thay đổi tiến bộ chủ yếu phải do các nguyên nhân bên trong, do các nguồn lực ứong nước kể cả khi chúng được đầu tư ra nước ngoài.
Do vậy, việc đề cao nội lực là cần thiết và đúng đắn. Thứ tưI chất lượng cuộc sống của dân cư không ngừng được cải thiện và nâng cao. Nói cách khác, người dân phải được thụ hường những thành quả của tăng trưởng kinh tế. Chất lượng cuộc sống được thể hiện ờ mức thu nhập, tuổi thọ, mức độ thụ hường của dịch vụ văn hoá, y tế, giáo dục, cơ hội lựa chọn trong việc thoả mãn các nhu cầu, sự đảm bảo về an ninh, sự bình đẳng, quyền tự do của công dân.
Như vậy, khái niệm phát triển kinh tế có nội dung rộng hơn khái niệm tăng trưởng kinh tế. Nếu tăng trường kinh tế mới chi đề cập tới những thay đổi về lượng của nền kinh tế thì phát ứiển kinh tế không những đề cập tới những thay đổi về lượng, mà còn bao hàm cả những thay đổi về chất.