mở đầu và khai sinh ra tất cả những môn phân hoá và phát triển đã nêu trên của nó. Hình thái học là một lĩnh vực cơ bản đầu tiên của sinh học và là cơ sở cho lĩnh vực sinh lý học. Giải phẫu và sinh lý học là 2 môn không thể tách rời nhau đƣợc. Hình thái luôn đi cùng chức năng, hình thái nào thì chức năng đó.
Cho nên giải phẫu chức năng đã trở thành một quan điểm và phƣơng châm cơ bản của nghiên cứu và mô tả giải phẫu. TẦM QUAN TRỌNG CỦA GIẢI PHẪU HỌC TRONG Y HỌC Giải phẫu học là môn cơ sở của các môn cơ sở cũng nhƣ các môn lâm sàng của y học. Thật vậy, không thể hiểu đƣợc cấu tạo tế bào của từng mô, từng cơ quan (mô học), không thể hiểu đƣợc sự phát triển của từng cá thể (phôi thai học), cũng nhƣ chức năng của từng cơ quan (sinh lý học). nếu chúng ta không biết gì về hình thái, cấu trúc của các cơ quan đó.
Đối với các môn lâm sàng cũng vậy, ngƣời thầy thuốc cần phải có kiến thức giải phẫu mới có thể thăm khám các phủ tạng để chẩn đoán cũng nhƣ điều trị có kết quả. Vì vậy, đúng nhƣ Mukhin, một thầy thuốc Nga nói: “Ngƣời thầy thuốc mà không có kiến thức về giải phẫu học thì chẳng những vô ích mà còn có hại”. Đặc biệt với các môn học hệ ngoại - sản, kiến thức giải phẫu học lại càng cần thiết. Không thể mổ xẻ tốt trên ngƣời sống nếu không nắm vững giải phẫu từng cơ quan, từng bộ phận cũng nhƣ từng vùng.
Nhà giải phẫu học nổi tiếng ngƣời Pháp Testut đã từng viết trong cuốn sách giải phẫu học đồ sộ của mình rằng: “Có thể khẳng định mà không sợ quá đáng là chỉ có trƣờng phái giải phẫu và đặc biệt là giải phẫu định khu mới là nơi đào tạo những nhà phẫu thuật giỏi”. Trịnh Văn Minh: “con ngƣời đứng vững bằng đôi bàn chân, Y học bắt đầu từ giải phẫu học”. DANH TỪ VÀ DANH PHÁP GIẢI PHẪU HỌC Môn khoa học nào cũng có ít nhiều các từ ngữ chuyên ngành riêng. Đối với danh từ giải phẫu học thì nó có tầm quan trọng đặc biệt, nó không chỉ riêng cho ngành giải phẫu mà cho tất cả các ngành có liên quan nhƣ sinh học, thú y và nhất là trong y học vì nó chiếm tới 2/3 tổng số danh từ của y học.
Mỗi chi tiết giải phẫu có một tên riêng, mỗi danh từ giải phẫu phải đảm bảo yêu cầu mô tả đúng nhất chi tiết mà nó đại diện. Thuật ngữ giải phẫu quốc tế có nguồn gốc từ tiếng Latin, tiếng Ả Rập và tiếng Hy Lạp nhƣng đều đƣợc thể hiện bằng ký tự và văn phạm tiếng 3 Trường Đại Học Võ trường Toản Khoa Y Latin. Trên con đƣờng tiến tới một bản danh pháp giải phẫu quốc tế hợp lý nhất và để bổ sung thêm những chi tiết mới phát hiện, đã có nhiều thế hệ danh pháp giải phẫu Latin khác nhau đƣợc lập ra qua các kỳ hội nghị. Bản danh pháp mới nhất là thuật ngữ giải phẫu quốc tế TA (Terminologia Anatomica) đƣợc hiệp hội các nhà giải phẫu quốc tế thống nhất và chấp thuận năm 1998.
Hiện nay tất cả các danh từ giải phẫu mang tên ngƣời phát hiện (eponyms) đã hoàn toàn đƣợc thay thế. TƢ THẾ GIẢI PHẪU VÀ ĐỊNH HƢỚNG VỊ TRÍ GIẢI PHẪU 6. Tƣ thế giải phẫu Tƣ thế ngƣời đứng thẳng 2 tay buông xuôi, mắt và 2 bàn tay hƣớng về phía trƣớc. Các vị trí và cấu trúc giải phẫu đƣợc xác định theo 3 mặt phẳng không gian.
Các mặt phẳng giải phẫu 6. Mặt phẳng đứng dọc Là mặt phẳng đứng theo chiều trƣớc sau. Có nhiều mặt phẳng đứng dọc song song với nhau, song chỉ có một mặt phẳng đứng dọc giữa nằm chính giữa cơ thể và chia cơ thể làm 2 nửa đối xứng, phải và trái. Ngoài ra, cho mỗi nửa cơ thể, mặt phẳng đứng dọc giữa còn là mốc để so sánh 2 vị trí trong và ngoài.
Mặt phẳng đứng ngang Là mặt phẳng trán, là một mặt phẳng đứng theo chiều ngang, từ bên nọ sang bên kia, thẳng góc với mặt phẳng đứng dọc. Có nhiều mặt phẳng đứng ngang, song ngƣời ta thƣờng lấy một mặt phẳng đứng ngang qua giữa chiều dày trƣớc sau của cơ thể làm mốc, chia cơ thể thành phía trƣớc và phía sau. Mặt phẳng nằm ngang Là mặt phẳng nằm theo chiều ngang, thẳng góc với trục đứng thẳng của cơ thể hay thẳng góc với 2 mặt phẳng đứng. Có nhiều mặt phẳng nằm ngang khác nhau, song song với các chiều nằm ngang phải trái và trƣớc sau của cơ thể.
Song cũng có một mặt phẳng nằm ngang qua chính giữa cơ thể, lúc này cơ thể chia thành 2 phần trên và dƣới. Chú ý: không nên nhầm mặt phẳng nằm ngang với mặt cắt ngang, hai mặt phẳng này có thể trùng nhau. Các từ chỉ mối quan hệ vị trí và so sánh - Trên: hay đầu, phía đầu. Dƣới: hay đuôi, phía đuôi.
- Trƣớc: phía bụng. Sau: phía lƣng. - Phải trái là 2 phía đối lập nhau. - Trong ngoài là 2 vị trí so sánh theo chiều ngang ở cùng một phía đối với mặt phẳng đứng dọc giữa.
- Gần hay phía gần, xa hay phía xa gốc chi. - Quay và trụ hay phía trụ và phía quay. 4 Trường Đại Học Võ trường Toản Khoa Y - Phía chày và mác tƣơng ứng với ngoài và trong. - Phía gan tay và phía mu tay tƣơng ứng với trƣớc và sau bàn tay.
- Phía gan chân và mu chân tƣơng ứng với trên và dƣới bàn chân. Mặt phẳng đứng ngang 2. Mặt phẳng cắt ngang 5. Mặt phẳng đứng dọc 10.
Mặt phẳng nằm ngang 12. Mặt phẳng đứng dọc giữa 13. Phía trên (đầu) Hình 1. Các mặt phẳng của cơ thể trong không gian 6.
Nguyên tắc đặt tên trong giải phẫu học Đây là môn học mô tả nên phải có các nguyên tắc đặt tên cho các chi tiết để ngƣời học dễ nhớ và không bị lẫn lộn, những nguyên tắc chính là: - Lấy tên các vật trong tự nhiên đặt cho các chi tiết có hình dạng giống nhƣ thế. - Đặt tên theo hình học (chỏm, lồi cầu, tam giác, tứ giác. - Đặt tên theo chức năng (dạng, khép, gấp, duỗi. - Đặt tên theo vị từ nông sâu (gấp nông, gấp sâu.) - Đặt tên theo vị trí tƣơng quan trong không gian (trên, dƣới, trƣớc, sau, trong, ngoài, dọc, ngang.) dựa vào 3 mặt phẳng trong không gian là mặt phẳng đứng dọc, đứng ngang và nằm ngang.
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ HỌC GIẢI PHẪU 7. Phƣơng pháp nghiên cứu 5 Trường Đại Học Võ trường Toản Khoa Y Danh từ giải phẫu học có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp là anatome (cắt ra), nói theo ngôn ngữ hiện nay là “phẫu tích”. Nhƣng khi khoa học phát triển thì chỉ quan sát bằng mắt không đủ, mà phải sử dụng nhiều phƣơng pháp khác: bơm tạng, nhuộm màu, chụp X-quang, làm tiêu bản trong suốt, nhuộm mô, tổ chức vv. tuỳ mục đích nhƣng chủ yếu là đại thể và vi thể.
Phƣơng pháp học giải phẫu 7. Xác và xương rời Học xƣơng thì phải trực tiếp cầm lấy xƣơng mà mô tả, đối chiếu với hình vẽ trong sách hoặc trên tranh. Học các phần mềm thì phải trực tiếp phẫu tích trên xác mà quan sát và hiểu nội dung đã nêu trong bài giảng hoặc sách vở. Xác đóng vai trò quan trọng trong giảng và học giải phẫu, nhƣng thực tế hiện nay có rất ít xác nên việc sinh viên trực tiếp phẫu tích trên xác là rất hiếm.
Ngoài xác ƣớp để phẫu tích còn có các tạng rời, súc vật cũng giúp ích cho sinh viên học tập giải phẫu rất tốt. Các xương rời Các xƣơng rời giúp cho việc học rất tốt nhƣng rễ thất lạc. Các tiêu bản phẫu tích sẵn Các tiêu bản phẫu tích sẵn đƣợc bảo quản trong bô can thuỷ tinh, trình bày trong phòng học. Một số Thiết đồ cắt mỏng đặt giữa 2 tấm kính, hay các tiêu bản cắt đƣợc nhựa hoá, các tiêu bản này nhƣ thật nhƣng đã đƣợc ngấm nhựa.
Các mô hình nhân tạo bằng chất dẻo hay thạch cao Tuy không hoàn toàn giống thật song vẫn giúp ích cho sinh viên học về hình ảnh không gian hơn tranh vẽ và dễ tiếp xúc hơn xác. Tranh vẽ Tranh vẽ là phƣơng tiện học tập rất tốt và rất cần thiết. Cơ thể sống Là một học cụ vô cùng quan trọng đối với sinh viên. Không gì dễ hiểu dễ nhớ, nhớ lâu, và dễ vận dụng vào thực tế bằng quan sát trực tiếp trên cơ thể sống những cái có thể quan sát đƣợc nhƣ: tai ngoài, mắt, mũi, họng, miệng, răng.
Hình ảnh X-quang Hình ảnh X-quang cũng là học cụ trực quan đối với thực tế trên cơ thể sống. Các phương tiện nghe nhìn Ngày nay các phƣơng tiện nghe nhìn rất phát triển, thông qua công nghệ thông tin chúng ta có thể cập nhật các kiến thức, hình ảnh (kể cả không gian ba chiều trên mạng). Có thể trao đổi thông tin cũng nhƣ tự học. 6 Trường Đại Học Võ trường Toản Khoa Y Nói tóm lại giải phẫu học là một môn quan trọng của y học, ngƣời sinh viên cũng nhƣ ngƣời thầy thuốc phải nắm vững giải phẫu cơ thể ngƣời thì mới có thể chữa đƣợc bệnh cho ngƣời bị bệnh.
Tài liệu tham khảo 1. Nguyễn Quang Quyền (2010), Bài giảng Giải phẫu học, tập I – II, NXB Y học TP HCM. Trƣờng Đại Học Y Khoa Thái Nguyên, Bài giảng Giải phẫu học, tập I – II, , NXB Y học Hà Nội, 2008 3. Nguyễn Văn Huy (2006), Giải phẫu ngƣời, NXB Y học Hà Nội.
Trịnh Văn Minh (2004), Giải phẫu ngƣời, tập I, NXB Y học Hà Nội. Atlas Giải phẫu học. 7 Trường Đại Học Võ trường Toản Khoa Y GIẢI PHẪU HỆ HÔ HẤP Mục tiêu học tập 1. Mô tả cấu tạo của mũi ngoài và các thành của ổ mũi, các xoang cạnh mũi.
Biết đƣợc hình dạng và kích thƣớc của hầu, đối chiếu hầu lên cột sống. Mô tả đƣợc hình thể ngoài và trong của thanh quản. Trình bày đƣợc đặc điểm giải phẫu của khí quản. Trình bày đƣợc đặc điểm giải phẫu của phổi và màng phổi.
Nội dung Sự hô hấp là một đặc trƣng cơ bản của sinh vật. Ở loài đơn bào sự trao đổi khí đƣợc thực hiện trực tiếp giữa tế bào và môi trƣờng sống. Ở động vật cấp cao nhƣ động vật có xƣơng sống sự hô hấp gồm hai động tác hít vào và thở ra. Không khí từ bên ngoài vào phổi khi hít vào và ngƣợc lại khi thở ra.
Quá trình trao đổi khí giữa không khí và tế bào đƣợc thực hiện gián tiếp qua sự trao đổi khí và máu. Do đó hệ hô hấp gồm nhiều bộ phận đƣợc hình thành.