ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM TRƢỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ QUẢNG NAM GIÁO TRÌNH MÔN HỌC: DƯỢC CỔ TRUYỀN NGÀNH: DƯỢC SỸ TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG Ban hành kèm theo Quyết định số: 248 /QĐ-CDYT ngày 15 tháng 09 năm 2017 của Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Y tế Quảng Nam THÁNG 9 NĂM 2017 GIỚI THIỆU MÔN HỌC DƢỢC HỌC CỔ TRUYỀN Đối tƣợng: Cao đẳng Dƣợc - Số tín chỉ: 3 (2/1) - Số giờ tín chỉ: + Lý thuyết: 30 giờ + Thực hành: 30 giờ + Tự học: 75 giờ - Thời điểm thực hiện: Học kỳ V MỤC TIÊU HỌC PHẦN 1. Hiểu được những lý luận cơ bản của y học cổ truyền và vận dụng được các lý luận đó vào chế biến sử dụng thuốc cổ truyền. Trình bày được các khái niệm cơ bản của thuốc cổ truyền và các phương pháp chế biến bào chế thuốc cổ truyền. Trình bày được công năng chủ trị 60 - 70 vị thuốc hay dùng 4.
Phân tích được các cấu trúc cơ bản của bài thuốc Đông y (quân, thần, tá, sứ) và cách xét tác dụng của bài thuốc Đông y. Thực hiện một số kỹ năng chế biến thuốc cổ truyền theo một số phương pháp chế biến cơ bản 6. Hướng dẫn sơ bộ cấu trúc, nội dung, cách xét tác dụng đơn thuốc 7. Nhận thức đúng 70 vị thuốc chín 8.
Sinh viên yêu thích và hứng thú với môn học, có thái độ nghiêm túc, cầu tiến trong quá trình học tập và nghiên cứu. Hình thành thói quen vận dụng lý thuyết vào giải quyết các vấn đề trong thực tiễn NỘI DUNG HỌC PHẦN STT Tên bài PHẦN LÝ THUYẾT 1 Học thuyết âm dương 2 Học thuyết ngũ hành 3 Học thuyết tạng tượng 4 Nội dung của phương thuốc cổ truyền 5 Chế biến thuốc theo phương pháp cổ truyền 6 Đại cương về thuốc cổ truyền 1 7 Thuốc giải biểu 8 Thuốc khứ hàn 9 Thuốc thanh nhiệt 10 Thuốc trừ thấp 11 Thuốc hóa đàm, chỉ khái 12 Thuốc về khí, huyết 13 Thuốc bổ âm dương PHẦN THỰC HÀNH 1 Chế thuốc phiến 2 Sao thuốc 3 Sao thuốc qua chất trung gian 4 Nhận thức thuốc giải biểu, khứ hàn. 5 Chích thuốc với các phụ liệu 6 Giới thiệu một số sản phẩm nguồn gốc Đông y và giới thiệu cách xét tác dụng của bài thuốc. 7 Nhận thức thuốc hóa đờm, chỉ khái, thanh nhiệt.
8 Giới thiệu cấu trúc bài thuốc Đông y và Nhận thức thuốc trừ thấp 9 Phân tích một số bài thuốc Đông y 10 Nhận thức thuốc về khí, huyết, thuốc bổ âm dương. Tổng số 2 Phần 1. ĐẠI CƢƠNG Y HỌC CỔ TRUYỀN Chƣơng 1: HỌC THUYẾT ÂM DƢƠNG MỤC TIÊU 1. Trình bày được nội dung cơ bản của học thuyết âm dương 2.
ận dụng được thuyết âm dương trong chu n đoán học cổ truyền. Trình bày được sự vận dụng thuyết âm dương vào đông dược. Xuất xứ Thuyết âm dương trong YHCT có nguồn gốc từ học thuyết triết học duy vật cổ đại phương Đông, nó thể hiện quá trình nhận thức và nắm vững quy luật phát triển của sự vật, được cổ nhân vận dụng từ 3000 năm nay. Thuyết âm dương được vận dụng trong nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau như thiên văn học, nông học, toán học, hóa học, y học cổ truyền.
Trong đó y học cổ truyền (YHCT) vận dụng thuyết âm dương một cách nhuần nhuyễn và phong phú. Thuyết được hình thành và phát triển rộng rãi ở vào thời Xuân Thu Chiến Quốc (Trung Quốc). Nó đã trở thành lý luận cơ bản giải thích những quy luật giữa con người với vũ trụ. Coi con người là một vũ trụ thu nhỏ; đồng thời trên cơ sở học thuyết này có thể giải thích sự phát sinh phát triển của bệnh tật và các phương pháp chẩn trị lâm sàng.
Nội dung Nội dung cơ bản của thuyết âm dương chỉ ra trong mỗi vật thể, mỗi sự việc bao giờ cũng tồn tại khách quan hai mặt vừa đối lập lại vừa thống nhất, vừa hòa hợp lại vừa tương phản. Âm dương mang tính chất hỗ căn nghĩa là nương tựa vào nhau, âm lấy dương làm gốc và ngược lại dương lấy âm làm nền tảng. Điều đó có nghĩa là không có dương thì âm không thể tồn tại và không có âm thì dương không thể thay đổi. Nói một cách khác là cả hai mặt đều là quá trình tích cực của sự vật.
Âm dương tuy trừu tượng về mặt khái niệm nhưng lại có cơ sở vật chất của nó, nó bao quát tất cả, phổ cập tất cả. 3 Âm dương nương tựa lẫn nhau cùng tồn tại xen kẽ vào trong sự phát triển của sự vật, chúng không thể đơn độc phát sinh, phát triển được. Âm dương còn thể hiện ở sự tiêu trưởng, sự vận động không ngừng và chuyển hóa lẫn nhau, qua đó để giữ cho mọi hoạt động của sự việc cân bằng. Nếu không mặt này thái quá thì mặt kia sẽ suy yếu và ngược lại.
Chính vì vậy hai mặt âm dương của sự vật luôn biến động không ngừng. Và chính sự biến động đó đã lập lại thế cân bằng tương đối cho sự vật hay cho con người và được biểu hiện ra sự "bình hành âm dương". Trong sách Tố Vấn âm dương ứng đại luận có viết: "Âm dương giả, thiên địa chi đạo giã, vạn vật chi cương kỷ, biến hóa chi phụ mẫu, sinh sát chi bản thủy". Có nghĩa là âm dương là quy luật của vạn vật, cha mẹ của sự biến hóa, nguồn gốc của sự sinh sát, trưởng thành, diệt vong.
Khái niệm âm dương được hình tượng hóa bằng một vòng tròn khép kín (hình 1). Đường cong hình chữ S ngược chia hình tròn ra hai phần, trong mỗi phần có một vòng tròn nhỏ. Ở đây vòng tròn lớn mang ý nghĩa sự thống nhất của một sự vật, hình cong S ngược cho phép liên hệ sự tương đối và chuyển hóa âm dương; hai vòng tròn nhỏ biểu thị hai thái cực âm và dương (đó là thiếu âm và thiếu dương). Thiếu âm Thái âm Thái dương Thiếu dương Hình 1.1: Biểu tượng âm dương Qua nội dung trên ta thấy nổi bật lên hai thuộc tính cơ bản của âm dương đó là: - Tồn tại khách quan (âm dương có sẵn trong mọi vật) - Âm dương mang tính tương đối, và tính tương đối đó được thể hiện ngay trong từng vật thể và trong từng sự việc, thể hiện ở sự vận động của âm dương và sự vận động tới mức nào đó sẽ chuyển hóa sang nhau "Dương cực sinh âm, âm cực sinh dương".
Ví dụ chính ngọ (giữa trưa) là dương tới cực thì cũng là lúc bắt đầu của âm sinh ra (giờ mùi). Âm dương hỗ căn, tiêu tưởng. Những biểu hiện về âm dƣơng 4 3. Về trạng thái 12 giờ Âm trong dƣơng Thuộc dương: trạng thái động, hưng phấn, nhiệt, sáng… Ngày (+) Thuộc âm: trạng thái tĩnh, hàn, ức chế, tối… 3.
Về không gian 6 giờ 18 giờ Trời thuộc dương, đất thuộc âm: Mặt trời thuộc dương, mặt trăng thuộc âm. Trong một không gian cụ thể: phía trên Đêmlà(dương, -) phía dưới là âm, phía ngoài là dương, phía trong là âm (hình 2). 24 giờ Dƣơng trong âm Âm trong âm Phía trên Phía trong (-) (-) Phía trong Phía ngoài Phía ngoài (+) ( -) (+) Phía dưới Ghi chú: Âm bằng dấu (-), Dương bằng dấu (+) Hình 1.2: Âm dương của không gian 3. Về thời gian Ngày thuộc dương, đêm thuộc âm.
Trong một ngày đêm thì từ 6 giờ đến 12 giờ là dương ở trong dương, 12 giờ đến 18 giờ là âm ở trong dương, 18 giờ đến 24 giờ là âm ở trong âm, 24 giờ đến 6 giờ là dương ở trong âm. Và âm dương chuyển hóa liên tục như vậy, đó cũng là biểu hiện tính tương đối của âm dương (hình 3). Dƣơng trong dƣơng Hình 1.3: Tính tương đối về thời gian theo âm dương. Về phương hướng Phía Đông, phía Nam thuộc dương Phía Bắc, phía Tây thuộc âm (hình 4).
5 Phương Nam Phương Đông Phương Phương trung ương Tây Phương Bắc Hình 1.4: Quy định cách thể hiện phương hướng của thời cổ Trung Quốc (quy định này ngược với quy định phương vị hiện nay) 3. Về thời tiết Mùa xuân thuộc dương, tăng trưởng tới mùa hạ (cực dương). Mùa thu thuộc âm, tăng dần tới mùa đông (cực âm) và cứ luân hồi âm dương như vậy. Tuy nhiên trong mỗi một chu kỳ như vậy cũng có những dao động song không thoát khỏi quy luật của âm dương (Xuân sinh, hạ trưởng, thu thu, đông tàng).
Đó cũng là biểu hiện quy luật của thiên nhiên. Sức khỏe và bệnh tật của con người cũng bị phụ thuộc vào quy luật đó. Vì âm dương trong bốn mùa là nguồn gốc của muôn vật, cái căn bản của vạn vật đều quy tụ ở đó. Sự vận dụng thuyết âm dƣơng trong YHCT Mặc dù thuyết âm dương ra đời khá lâu, cách chúng ta 30 thế kỷ, song cho đến nay nó vẫn không ngừng được vận dụng và phát huy trong lĩnh vực YHCT.
Vì nó đã nêu ra được những quy luật có tính tiên đề. Những quy luật đó đã được các nhà y học cổ vận dụng vào lĩnh vực của mình, càng ngày càng làm cho nó sâu sắc thêm, phong phú thêm, nó trở thành phương tiện chỉ đạo cho mọi hoạt động của YHCT, về phòng và trị bệnh, trong đó kể cả phần Y lẫn phần Dược. Về tổ chức học cơ thể - Ngũ tạng: (Tâm, can ,tỳ, phế, thận) thuộc âm - Lục phủ: (Vị, đởm, tiểu tràng, đại tràng, bàng quang, tam tiêu) thuộc dương. Trong mỗi tạng phủ, đều có phần âm phần dương.
Can có can âm, can dương; tâm có tâm âm, tâm dương; tỳ có tỳ âm, tỳ dương; thận có thận âm, thận dương… Tính chất tương đối của âm dương được thể hiện ở tạng như tâm là tạng thuộc âm trong dương 6 (tâm nằm ở ngực thuộc phần dương); can tạng âm trong âm (can âm nằm ở trung tiêu-phần bụng-thuộc dương). - Lưng thuộc dương; bụng thuộc âm; phần bụng dưới thuộc âm trong âm, phần ngực thuộc dương trong dương. - Cũng theo khái niệm âm dương như vậy, các đường kinh dương trên cơ thể được phân bố ở phía sau lưng, mé ngoài của chân, tay và mạng sườn. Còn các đường kính âm được phân bố ở phía bụng, phía trong cánh tay và chân… - Khí, trạng thái năng lượng của cơ thể đưa lại công năng của cơ nhục, hoạt động của tạng phủ… thuộc dương; huyết, tinh, tân dịch, thuộc âm; da lông thuộc dương; xương tủy thuộc âm.
Về sinh lý học Khi phần âm và phần dương trong cơ thể cân bằng thì cơ thể khỏe mạnh. Bản thân cơ thể luôn có sự điều chỉnh để âm dương cân bằng. Sự mất thăng bằng giữa hai mặt âm dương là cơ sở cho sự phát sinh ra bệnh tật.