Chương 1: Vài nét khái quát về công tác xã hội trong bệnh viện Chương 2: Một số phương pháp can thiệp công tác xã hội trong bệnh viện Chương 3: Quy trình thực hành công tác xã hội trong bệnh viện Mỗi chương được trình bày theo cấu trúc: mục tiêu, nội dung, câu hỏi ôn tập. Trong quá trình biên soạn, tác giả đã cố gắng thể hiện ngắn gọn, trọng tâm các nội dung cơ bản, khoa học. Tuy nhiên, do thời gian có hạn nên không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp của đồng nghiệp để tài liệu được hoàn thiện hơn. Kon Tum, ngày tháng năm 2021 Tham gia biên soạn Chủ biên: Nguyễn Thị Hồng Chuyên Thành viên: Trương Thị Minh Nguyệt 5 GIÁO TRÌNH MÔN HỌC TÊN MÔN HỌC: CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG BỆNH VIỆN Mã môn học: 61033047 Vị trí, tính chất, ý nghĩa và vai trò của môn học: - Vị trí: Đây là môn học thuộc khối các kiến thức giáo dục chuyên ngành, trang bị cho sinh viên những kiến thức quan trọng, cần thiết về nhiệm vụ hình thức và các phương pháp quan trọng trong công tác xã hội.
- Tính chất: Công tác xã hội trong bệnh viện là môn học vừa lý thuyết, vừa thực hành. Kiến thức thực hành được nắm vững thông qua những tiết thảo luận, thực hành dạy tại lớp. - Ý nghĩa: Việc nắm vững các kiến thức lý thuyết và thực hành của học phần giúp sinh viên có được những kĩ năng cần thiết giúp các em vững vàng, tự tin trong những lần thực hành, thực tập và sau khi tác nghiệp đi làm với những nhóm đối tượng trong bệnh viện khác nhau. Và là yếu tố quan trọng giúp sinh viên định hướng, nhận thức rõ vai trò của ngành học Công tác xã hội qua đó có khả năng tự rèn luyện để thành công hơn trong sự nghiệp của mình.
Mục tiêu của môn học Sau khi kết thúc môn học, người học có khả năng: Kiến thức: Sinh viên trình bày, xác định được những kiến thức cơ bản tổng quan về công tác xã hội trong bệnh viện; mô tả và phân tích các kiến thức về vai trò của nhân viên xã hội trong bệnh viện cũng như các phương pháp can thiệp/hỗ trợ công tác xã hội trong bệnh viện phù hợp. Kỹ năng 6 - Phân tích, đánh giá, nhận xét về các vấn đề, tình huống phát sinh trong bệnh viện. - Vận dụng được các kỹ năng cơ bản như: tạo mối quan hệ, cộng tác, khảo sát, thu thập và khai thác thông tin liên quan tới thân chủ, nhóm thân chủ trong bệnh viện và tiến hành lập kế hoạch hỗ trợ cho các đối tượng khác nhau trong bệnh viện. Về năng lực tự chủ và trách nhiệm: - Tích cực nghiên cứu, nâng cao trình độ và tham gia vào các hoạt động nhằm bảo vệ quyền lợi cho các nhóm đối tượng yếu thế trong bệnh viện; - Tuân thủ theo giá trị, nguyên tắc, đạo đức và ý trí học tập, thực hành, nghiên cứu để nâng cao kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp và vận dụng các kiến thức và kỹ năng đã học vào thực tiễn nghề nghiệp và đời sống.
Nội dung của môn học: CHƢƠNG 1: VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG BỆNH VIỆN Giới thiệu chương: Chương này giới thiệu khái quát các thông tin như khái niệm, chức năng, nhiệm vụ, vai trò, các nguyên tắc, các hoạt động trong công tác xã hội trong bệnh viện. Qua đó, sinh viên có cái nhìn khái quát về môn học và nắm bắt các thông tin cơ bản về công tác xã hội trong bệnh viện. Mục tiêu chương: + Mô tả, trình bày được khái niệm có liên quan, vị trí, vai trò công tác xã hội trong bệnh viện. Qua đó, phân tích các nguyên tắc, các hoạt động trong công tác xã hội bệnh viện.
7 + Vận dụng các nguyên tắc đạo đức nghề công tác xã hội thực hành các chuẩn mực đạo đức trong công tác xã hội trong bệnh viện và trong thực tế. + Rèn luyện tính tích cực trong học tập như: sự chăm chỉ, sáng tạo và tự học tập nghiên cứu bổ sung kiến thức; tôn trọng quyền con người và quyền được chăm sóc hỗ trợ của thân chủ trong công tác xã hội bệnh viện. Nội dung chương: 1. KHÁI NIỆM CTXH BỆNH VIỆN VÀ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN 1.1 Khái niệm công tác xã hội Trên thế giới có nhiều khái niệm khác nhau về công tác xã hội.
Dưới đây là một số khái niệm về công tác xã hội và nghề công tác xã hội được đông đảo các nhà nghiên cứu và những người thực hành công tác xã hội trên thế giới tham khảo, sử dụng: Theo định nghĩa của Hiệp hội quốc gia các nhân viên công tác xã hội Mỹ (NASW - 1970): "Công tác xã hội là một chuyên ngành để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đó”.(1) Luật an sinh-xã hội Phillipines giải thích: Công tác xã hội là một nghề bao gồm các hoạt động cung cấp các dịch vụ nhằm thúc đẩy hay điều phối các mối quan hệ xã hội, điều chỉnh sự hoà hợp giữa cá nhân và môi trường để có xã hội tốt đẹp. Tháng 7 năm 2000 tại Montresal, Canada, Hiệp hội Nhân viên Công tác xã hội Quốc tế (IFSW, 2000) đã thông qua khái niệm nghề công tác xã hội. "Nghề công tác xã hội thúc đẩy biến đổi xã hội, giải quyết vấn đề nảy sinh trong mối quan hệ giữa con người với con người và tăng cường năng lực, tự do của con người nhằm cải thiện điều kiện sống nói chung. Bằng việc vận dụng các lý thuyết hành vi 8 của con người và hệ thống xã hội, công tác xã hội can thiệp vào những thời điểm con người giao tiếp với môi trường của mình.
Các nguyên tắc về quyền con người và công bằng xã hội là nền tảng cơ bản của nghề công tác xã hội”.(2) Gần đây nhất, tháng 7/2014, Đại hội đồng Hiệp hội Nhân viên công tác xã hội Quốc tế (IFSW General Meeting) và Đại hội đồng Hiệp hội quốc tế các trường đào tạo công tác xã hội (IASSW General Assembly) đã thống nhất toàn cầu về định nghĩa nghề công tác xã hội. “công tác xã hội là một ngành khoa học và là nghề thực hành thúc đẩy nâng cao năng lực, sự tự do, liên kết xã hội, thay đổi xã hội và phát triển. Nguyên tắc chủ đạo của công tác xã hội là tôn trọng sự đa dạng, trách nhiệm tập thể, quyền con người và công bằng xã hội. Trên nền tảng lý thuyết công tác xã hội, khoa học xã hội,, kiến thức bản địa và nhân văn, công tác xã hội kết nối nhân dân và tổ chức để bày tỏ những thách thức trong cuộc sống và nâng cao chất lượng cuộc sống.
(3) Ở Việt Nam cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về công tác xã hội. công tác xã hội có thể hiểu là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội. Theo Đề án phát triển nghề công tác xã hội Việt Nam giai đoạn 2010 - 2020, công tác xã hội là hoạt động mang tính chuyên môn, được thực hiện theo các nguyên tắc và phương pháp riêng nhằm hỗ trợ các cá nhân, gia đình, nhóm xã hội và cộng đồng dân cư trong việc giải quyết các vấn đề của họ. Qua đó, công tác xã hội theo đuổi mục tiêu vì hạnh phúc cho con người và tiến bộ xã hội.(1) Theo TS Bùi Thị Xuân Mai: “Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng 9 lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình, cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề về xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội.
Như vậy, có thể hiểu công tác xã hội là một nghề chuyên nghiệp, áp dụng những nguyên tắc, kỹ năng để trợ giúp có hiệu quả cho cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết vấn đề góp phần xây dựng xã hội công bằng, hạnh phúc. Lĩnh vực và hệ thống tổ chức làm công tác xã hội trong lĩnh vực y tế Hệ thống là khái niệm được sử dụng để chỉ những chỉnh thể tức là những sự vật và hiện tượng có cấu trúc thống nhất, hoàn chỉnh được sắp xếp theo những nguyên tắc, những mối liên hệ nhất định, đồng thời cũng chịu chi phối của một số quy luật chung. Hệ thống là khái niệm được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau và là cơ sở cho hoạt động hệ thống hoá các hiện tượng sự vật của thiên nhiên và xã hội. Hệ thống y tế (health system) có thể được mô tả như sau: Là một hệ các niềm tin về khía cạnh văn hoá về sức khoẻ và bệnh tật hình thành nên cơ sở của các hành vi nâng cao sức khoẻ tìm kiếm dịch vụ y tế.
Là những sắp xếp về thể chế mà trong đó diễn ra các hành vi nói trên. Là bối cảnh tự nhiên, chính trị, kinh tế, xã hội của các niềm tin và thể chế vừa nêu. Nói tóm lại hệ thống y tế bao gồm những gì con người tin và hiểu biết về sức khỏe, bệnh tật và những gì người ta làm để duy trì sức khoẻ và chữa trị bệnh tật. Niềm tin và hành động thường liên quan mật thiết với nhau.
Mạng lưới y tế làm tham mưu tốt công tác vệ sinh môi trường: Vệ sinh ăn, ở, sinh hoạt, lao động… Tích cực tuyên truyền giáo dục sức khỏe, vận động nhân dân thực hiện các biện 10 pháp dự phòng. Việc kết hợp chặt chẽ giữa ngành y tế với các ngành khác, với các tổ chức xã hội nhằm thực hiện dự phòng theo hướng xã hội hoá. Hệ thống tổ chức làm công tác xã hội được mô tả như sau: - Cá nhân, gia đình và cộng đồng Cá nhân, gia đình và cộng đồng chịu trách nhiệm cực kỳ to lớn trong việc nâng cao sức khỏe cũng như chăm sóc chữa trị bệnh cho mọi thành viên trong cộng đồng.