TỔNG QUAN VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN MỤC TIÊU 1. Định nghĩa được sức khỏe sinh sản 2. Trình bày được 10 nội dung của sức khỏe sinh sản 3. Nêu 7 mục tiêu chiến lược của chăm sóc sức khỏe sinh sản NỘI DUNG Ngày 28/11/2000 Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số 136/2000/QĐ – TTg về việc phê duyệt “Chiến lược quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản giai đoạn 2001 – 2010 với các mục tiêu sau: Mục tiêu chung Bảo đảm đến năm 2010 tình trạng sức khỏe sinh sản được cải thiện rõ rệt và giảm được sự chênh lệch giữa các vùng và các đối tượng, bằng cách đáp ứng tốt hơn những nhu cầu đa dạng về chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) phù hợp với điều kiện của các cộng đồng ở từng địa phương, đặc biệt chú ý đến các vùng và đối tượng có khó khăn.
Mục tiêu cụ thể Mục tiêu 1: Tạo sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức, cũng như sự ủng hộ và cam kết thực hiện các mục tiêu và các nội dung của CSSKSS trong mọi tầng lớp nhân dân, trước hết trong cán bộ lãnh đạo các cấp, người đứng đầu trong các tổ chức, đoàn thể. Mục tiêu 2: Duy trì vững chắc xu thế giảm sinh. Bảo đảm quyền sinh con và lựa chọn các biện pháp tránh thai có chất lượng của phụ nữ và các cặp vợ chồng. Giảm có thai ngoài ý muốn và các tai biến do nạo, hút thai.
Mục tiêu 3: Nâng cao tình trạng sức khỏe của phụ nữ và các bà mẹ, giảm tỷ lệ bệnh tật, tử vong mẹ, tử vong chu sinh và tử vong trẻ em một cách đồng đều hơn giữa các vùng và các đối tượng, đặc biệt chú ý các vùng khó khăn và các đối tượng chính sách. Mục tiêu 4: Dự phòng có hiệu quả để làm giảm số mắc mới và điều trị tốt các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản và các bệnh lây qua đường tình dục, kể cả HIV/AIDS và tình trạng vô sinh. Mục tiêu 5: CSSKSS tốt hơn cho người cao tuổi, đặc biệt là phụ nữ cao tuổi, phát hiện và điều trị sớm các trường hợp ung thư vú và các ung thư khác của đường sinh sản nam và nữ. Mục tiêu 6: Cải thiện tình hình sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục của vị thành niên, thông qua việc giáo dục, tư vấn và cung cấp các dịch vụ CSSKSS phù hợp với lứa tuổi.
Mục tiêu 7: Nâng cao sự hiểu biết của phụ nữ và nam giới về giới tính và tình dục để thực hiện đầy đủ quyền và trách nhiệm sinh sản, xây dựng quan hệ tình dục an toàn, có trách nhiệm bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau nhằm nâng cao sức khỏe sinh sản (SKSS) và chất lượng cuộc sống. Vì sao cần sức khỏe sinh sản Vì cần có sự hài hòa giữa nhịp độ gia tăng dân số và phát triển kinh tế, cần có một dân số ổn định. Hiện nay số vị thành niên tới hơn một tỷ người, chiếm 15% dân số thế giới, người già trên 60 tuổi quá ít. Ở Việt Nam tỷ lệ người trẻ đông đảo chưa từng thấy trong quá trình phát triển, 50% dân số dưới 20 tuổi, và chỉ có chừng 5% dân số già trên 65 tuổi, vị thành niên 10 - 19 tuổi có tới trên 23% dân số tức là 17 triệu người.
Vì mọi người, mỗi gia đình cần có sức khỏe tốt, đặc biệt là sức khỏe phụ nữ Trên thế giới có: - 120 triệu cặp vợ chồng có nhu cầu kế hoạch hóa gia đình mà không được thỏa mãn. - 60 - 80 triệu cặp vợ chồng vô sinh. - 70 triệu người phá thai hàng năm và trong đó có 20 triệu người phá thai không an toàn. - 585 ngàn người phụ nữ chết do thai nghén và sinh đẻ, mà 955 có thể tránh được.
Sự chết này xảy ra ở các nước đang phát triển. - 25 triệu trẻ em đẻ ra hàng năm có cân nặng dưới 2. - 9 triệu trẻ đẻ dưới 1 tuổi chết hàng năm, trong đó có trên 4 triệu chết ngay trong tháng đầu sau sinh. - 330 triệu trường hợp mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục.
Trong đó, 30 triệu HIV dương tính (LHQ/1998). - Môi trường sống đang bị hủy hoại vì dân số tăng quá nhanh. Vì HIV/AIDS đang vẫn còn nguy cơ lan tràn rất nhanh ở khu vực các nước đang phát triển nhất là ở Châu Phi và Châu Á. Mỗi ngày có thêm 8 ngàn thanh niên (10 – 24 tuổi) bị lây nhiễm.
Mỗi năm có tới 1,7 triệu người mắc HIV ở Châu Phi và Châu Á có tới 7 trăm ngàn người mắc thêm. Hàm ý của sức khỏe sinh sản - Làm cho con người có thể sinh sản và điều hòa khả năng sinh sản của mình. - Phụ nữ có thể trải qua thai nghén và sinh nở an toàn, nghĩa là cả mẹ và con đều hoàn toàn khỏe mạnh. - Các cặp vợ chồng được hưởng vui thú tình dục mà không lo có thai ngoài ý muốn và không lo bị lây theo đường tình dục (Fathalla, 1987).
- Sức khỏe sinh sản có phạm vi hoạt động rộng hơn sức khỏe trẻ em và kế hoạch hóa gia đình. Nó bao gồm tất cả những hoạt động tình dục của cả cuộc đời con người và các nhu cầu của sức khỏe sinh sản trong cả cuộc đời. Sự khác nhau giữa sức khỏe sinh sản, sức khỏe bà mẹ trẻ em và kế hoạch hóa gia đình Sức khỏe bà mẹ trẻ em/Kế hoạch hóa gia đình Sức khỏe sinh sản Chú trọng đến. Toàn diện hơn nhiều, chú ý tất cả về các hoạt động nhằm mục tiêu sinh sản và hạn chế sinh sản (KHHGĐ) và mục tiêu không sinh sản (tình dục).
Thai nghén - sinh đẻ. Trách nhiệm chung cho cả. Các biện pháp kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) làm nam, nữ hạ tỷ lệ sinh. Nhằm thực hiện quyền sinh.
sản Như vậy. Chất lượng liên tục chú trọng. Nặng về số lượng. và nâng cao, đảm bảo tính bền.
Ít chú ý đến chất lượng và các yếu tố bền vững. Nặng về sinh đẻ và hạn chế sinh đẻ. Đề phòng dị dạng thai và thai. Ít chú ý đến nam giới.
Chú ý cả phòng và chữa vô sinh. Các bệnh nhiễm khuẩn kể cả bệnh lây truyền qua đường tình dục bao gồm cả HIV/AIDS tạo cơ sở để lồng ghép và tổ chức, sử dụng nguồn lực hợp lý. Có một số thay đổi và đặc biệt khi vận hành chương trình sức khỏe sinh sản so với chương trình dân số và kế hoạch hóa gia đình:. Thay đổi trong mục đích: Từ mục đích giảm sinh đẻ, giảm gia tăng dân số, chuyển thành mục đích chất lượng con người nhằm thỏa mãn các nhu cầu cá nhân, của các cặp vợ chồng và của gia đình về sức khỏe sinh sản.
Thực hiện chương trình sức khỏe sinh sản đòi hỏi một thay đổi tư duy từ thực hiện các chương trình có mục tiêu số lượng chuyển thành các chương trình có mục tiêu chất lượng có dịch vụ tốt. Các chính sách xã hội nhằm thực hiện mục tiêu giảm sinh, chuyển sang mục tiêu quan tâm thật sự đến việc thỏa mãn các nhu cầu sức khỏe sinh sản của mỗi cá nhân, để giảm những gánh nặng của thai nghén không có kế hoạch, ngoài ý muốn, giảm ốm đau và tử vong, dẫn tới giảm nhu cầu sinh đẻ và giảm dân số gia đình. Các chính sách kinh tế xã hội rộng lớn hơn cần được đáp ứng cho việc hoàn thành mục tiêu dân số ở tầng vị mô. Định nghĩa sức khỏe sinh sản Định nghĩa sức khỏe sinh sản được suy ra từ định nghĩa chung về sức khỏe của Tổ chức y tế Thế giới (1948).
Sức khỏe là tình trạng phát triển hài hòa của mỗi người về thể lực, trí tuệ và khả năng hòa nhập cộng đồng, chứ không phải chỉ là không có bệnh tật, ốm đau hoặc không tàn phế. Từ đó “SKSS là tình trạng khỏe mạnh về thể chất, tinh thần và xã hội, của tất cả những gì liên quan tới hoạt động và chức năng của bộ máy sinh sản, chứ không phải là không có bệnh hay khuyết tật của bộ máy đó” Hoạt động của bộ máy sinh sản nhằm hai mục tiêu: - Mục tiêu sinh sản là sinh đẻ. - Mục tiêu không sinh sản là những hoạt động tình dục. Cả hai mục tiêu đều mang tính xã hội rộng rãi và tính tự nhiên vốn có.
Vì thế có thể định nghĩa SKSS đơn giản và cụ thể: Khả năng nam và nữ tiến hành hoạt động tình dục an toàn, mong muốn có thai hoặc không, và nếu mong muốn thì quá trình mang thai đủ tháng an toàn, đẻ con ra khỏe mạnh và được chuẩn bị nuôi dưỡng tốt. Tuy cả nam và nữ đều cùng tham gia vào các hoạt động sinh sản, song việc mang thai, sinh đẻ, nuôi con bằng sữa mẹ vẫn là đặc quyền của phụ nữ. Do đó, phụ nữ vẫn là trung tâm của sức khỏe sinh sản. Sức khỏe sinh sản là cốt lõi của sức khỏe phụ nữ.
Sức khỏe phụ nữ lại chịu tác động của nhiều yếu tố cũng như sức khỏe sinh sản, đó là: - Phát triển kinh tế, mức độ thu nhập của gia đình và xã hội. - Trình độ văn hóa giáo dục của bản thân phụ nữ và trình độ học vấn chung của xã hội. - Các chính sách và tục lệ đối với vị thế của phụ nữ trong gia đình và xã hội. - Các dịch vụ sức khỏe và khả năng tiếp cận với các dịch vụ đó của phụ nữ.
Sức khỏe sinh sản được quy ước thành 6 phạm vi lớn: làm mẹ an toàn, kế hoạch hóa gia đình, phá thai, vô sinh, bệnh nhiễm khuẩn và bệnh lây qua đường tình dục và vấn đề tình dục học. Nhưng mỗi nước, mỗi khu vực lại có những vấn đề ưu tiên riêng của mình nên các tổ chức tham gia vào việc thực hiện chương trình sức khỏe sinh sản chi tiết hóa thành 10 nội dung: - Làm mẹ an toàn bao gồm việc chăm sóc khi mang thai, khi đẻ và sau đẻ, mẹ và con an toàn. - Kế hoạch hóa gia đình: làm cho mức sinh sản tự nhiên phù hợp với nhịp độ phát triển kinh tế giúp việc thực hiện quyền sinh sản. - Giảm nạo hút thai và nạo hút thai an toàn.
- Sức khỏe vị thành niên. - Các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản: viêm tiểu khung, viêm âm đạo, viêm cổ tử cung. - Các bệnh lây theo đường tình dục như: lậu, giang mai, trùng roi, viêm gan B và cả HIV/AIDS. - Ung thư vú và các ung thư bộ máy sinh dục khác (đang phát triển theo đà phát triển kinh tế).
- Giáo dục tình dục học.