CHƯƠNG 1: TỐNG QUAN TÀI LIỆU Một số nghiên cứu về sức khỏe vị thành niên và thanh niên, đặc biệt nhấn mạnh sức khỏe sinh sản Các vấn đề sức khóe vị thành niên và thanh niên thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu trên toàn thế giới. Quan hệ tình dục (ỌHTD) trước hôn nhân luôn là một chủ đề được quan tâm nhiều nhất và rất nhiều nghiên cứu đi sâu tìm hiểu vấn đề này. Rosero và Bixby đã tìm hiểu về mức độ QHTD trước hôn nhân ở Costa-Rica cũng như những yếu tố ảnh hưởng (Rosero-Bixby 1991). Mầu nghiên cứu mang tính đại diện quốc gia gồm những nũ’ thanh thiếu niên tuồi từ 15-24, cho phép phân tích so sánh các thuần tập (cohort) khác nhau, cho thấy tới tuồi 20, có tới 38% nữ thanh niên đã từng có QHTD trước hôn nhân.
Khác với nhiều suy đoán, các tác giả tìm thấy rằng nhũng nhóm tuổi trê lại ít có xu hưó‘ng có QHTD trước hôn nhân hon những cohort nhiều tuổi hơn. Trình độ học vấn cao cũng có liên quan tới việc ít có QHTD trước hôn nhân hon. Pick de Weiss và cs (1991) cũng đã tìm hiểu về vấn đề tình dục, tránh thai và mang thai ớ vị thành niên (VTN) tại thủ đô Mexico (Pick de Weiss, Atkin et al. Kết quả cho thấy với các em nữ độ tuổi 12-15, những yếu tố làm giảm khả năng có QHTD trước hôn nhân là: vâng lò‘i cha mẹ, có nguyện vọng duợc đi học, thảo luận công khai vấn đề tình dục với bạn bè cùng trang lứa.
Đặc biệt ở mức gia đình: việc đã từng có chị có thai ngoài hôn nhân và mẹ từng độc thân trong lẩn có thai đầu tiên làm giảm nguy cơ các em gái có QHTD trước hôn nhân. Vói các đối tượng thuộc nhóm tuối 16-19, các yếu tố cá nhân, bạn bè và gia đình cũng tương tự trèn, tuy nhiên việc có trao đoi với cha mẹ về các vấn đề sức khỏe sinh sản (SKSS) và tình dục cũng là một yếu tố "bào vệ’’ có liên quan tới tỳ lệ ỌHTD thấp hon. Zelaya (1997) tìm hiểu khác biệt về mặt xã hội và giới trong ỌHTD và sinh dẻ ỏ' VTN dựa trên 7.789 hộ gia đình ỏ' bang Leon ỏ' Nicaragua (Zelaya, Marin et al. Trinh độ học vấn thấp, tuối, việc không sống cùng bố đè, và sống cùng với bo dượng là bốn yểu tố làm tăng nguy cơ QHTD só‘m trước hôn nhân.
Velez và cs (1997) tìm hiếu yếu tố gì làm cho nữ sinh trung học ỏ' Puerto Rico có dự định trì hoãn ỌHTD (Velez and al. Kết quà cho thấy: lòng mộ đạo. tôn trọng các giá trị truyền thống, chơi với các nhóm bạn cũng có những quan niệm tôn trọng truyền thống và tôn trọng các giá trị tình dục truyền thống, và mẹ có các quan niệm mang tính bảo thủ về quan hệ tình dục là nhĩrng yếu tố khiến cho các nữ VTN ở đây quyết định trì hoãn những mối QHTD trước hôn nhân. Murray, Zabin và cs (1998) so sánh khác biệt về giói dối với những yếu tố ánh hướng đến QHTD lần đầu tiên ờ sinh viên thành thị ở Chi lê (Murray.
Zabin et al. Với nam sinh viên, các yểu tố cá nhân có liên quan tói lần QHTD đầu tiên là: có quan niệm phóng khoáng về tình dục, không thích thú việc làm bố làm mẹ sóm, đã từng hút thuốc lá, và tuổi (tuổi càng tăng thì nguy CO’ càng cao hơn). Các yếu tố tương tự ở nữ là: tuồi, học tập kém hơn, quan niệm thoáng vê tình dục, và đã từng say rượu. Với cả hai giới, yếu tố dùng ma túy dạng nhai (marijuana) đều làm tăng xác suất có QHTD trước hôn nhân.
Với các yếu tố môi trường bạn bè: ở cả hai giới nam và nữ, VTN có bạn bè đã từng có QHTD và VTN đang có người yêu đều có tỷ lệ QHTD cao hơn. Cuối cùng, yếu tố gia đình duy nhất có liên quan là với nũ' VTN sổng trong những gia đình không có sự có mặt cua người cha, khả năng có ỌHTD trước hôn nhân là cao hon so vói những bạn nữ có bổ sống cùng. (Wyatt 1999) cũng nghiên cứu những yểu tố liên quan đến việc có ỌHTD lần đầu tiên ở phụ nữ Jamaica. Kết quả cho thấy ỏ’ mức độ cá nhân: những phụ nữ dậy thì muộn hơn, tuổi cao hơn và có kiến thức về các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STDs) thường có QHTD muộn hơn.
những người có quan hệ rất gần gũi vói người yêu đầu tiên, có nhiều “mối quan hệ” thường là có ỌHTD sóm. Huerta-Franco và cs (1999) lại tìm hiểu nhũng yếu tố liên quan tới hoạt động tình dục ỏ' nhũng trẻ VTN đang gặp hoàn thành khó khăn ở Mexico (Huerta-Franco and Malacara 1999). Đối tượng chính là những VTN đang thiếu việc làm ổn định hay hoàn toàn thất nghiệp, cũng như những người 5 đang làm trong một số nhà máy xí nghiệp. Các tác gia chi chú trọng đến các yếu tố cá nhân và yếu tố ở cấp độ gia đình.
Kết quà khăng định rằng tuổi càng tăng thì tỳ lệ có QHTD càng cao, những người có kiến thức hiểu biết về STDs và những người có khuynh hướng cỏi mò’ trong quan niệm về tình dục thường có tỷ lệ QHTD cao hơn. ờ cấp độ gia đình, VTN ở những gia đình biết cách giài quyết vấn đề trong nội bộ và những gia đình trong đó người cha có trình độ học vấn cao hơn thường có tỷ lệ QHTD thấp hơn. số liệu được tồng họp bao phù một giai đoạn 10 năm được rút ra từ 3 cuộc điều tra Nhân khẩu học Sức khòe tại đây. Những yếu tố làm giam tỷ lệ ỌHTD sớm trước tuồi 20 bao gồm: tuổi nhỏ, học vấn cao hơn, đi dự lễ nhà thò' thường xuyên, và có xem TV hàng tuần, sinh ra và lớn lên ở nông thôn.
Chirinos và cs (2000) có tiến hành nghiên cứu ở thù đô Lima - Peru trên đối tượng nam học sinh phổ thông, sừ dụng bộ câu hỏi phát vấn để tìm hiểu về kiến thức và thái độ ve tình dục và thực hành tình dục ở nam VTN (Chirinos, Salazar et al. Đây là một nghiên cứu được triển khai như một cấu phần của mô hình can thiệp giáo dục sức khoẽ tình dục trong nhà trường. Kết quả cho thấy những nam VTN dậy thì sớm, từng bị lưu ban, từng có “bạn gái”, và từng trao đối cởi mở với người yêu về đề tài tình dục là những trẻ có tỷ lệ QHTD cao hơn. Anteghini và cs tìm hiểu hành vi sức khoè nguy CO', nhũng yếu tố nguy cơ có liên quan và những yếu tố bảo vệ ờ VTN tại Santos - Braxin (Anteghini, Fonseca et al.
Những yếu tổ “nguy cơ” có liên quan tói QHTD lần đầu trước tuổi 15 ở nam là: hút thuốc lá, mang vũ khí, trong gia đình có súng. Trái lại, những yếu tố “báo vệ” có liên quan là: gia đỉnh còn đủ cả bố và mẹ, cha có trình độ học vấn cao, và có mối gắn kết tốt với thầy cô giáo ở trường. Với nữ VTN, yếu tố bào vệ duy nhất có liên quan là chơi thể thao, yếu tố nguy CO' kì hút thuốc lá. Magnani và cs (2001) cũng đã xem xét mối liên quan giữa hành vi tình dục và sử dụng bao cao su ở học sinh trường cấp hai ở thành thị Peru (Magnani, Seiber et al.
Những yếu té “nguy cơ” có liên quan tới việc nam VTN từng có ỌHTD là: khả năng cầm đầu một nhóm bạn, có bạn bè đã từng QHTD, có bạn bè từng có thai. Vói nữ VTN, các yếu tố nguy CO' là: không có khả nàng phản ứng khi bất đồng vói bạn bè, bạn bè xung quanh từng có QHTD. và gia dinh có kinh tế kém hon. Park và cs (2002) cũng tìm hiểu các mối liên quan đến việc nhiễm HIV ở VTN Ecuador (Park, Sneed et al.
Kết quả cho thấy một số nhóm yếu tố nguy CO' liên quan tói QHTD sớm: nam giới, lứa tuổi cao hơn, tự tin trong việc dùng bao cao su, và đặc biệt là áp lực từ phía bạn bè. Trái lại, một sô yếu tổ bảo vệ bao gồm: khả năng từ chối tình dục không an toàn, nhận thúc nguy cơ HIV/A1DS, mong muốn về học tập, và gia đình có gốc gác nông thôn. Ở khu vực châu Phi, cũng cỏ nhiều tác giả tiến hành các nghiên cứu tương tự. Flisher và cs (1996) tiến hành nghiên cứu nhũng học sinh trung học ỏ' bán đảo Cape - Nam Phi (Flisher.
Ziervogel et al. Kết quả phân tích hồi qui đa biến cho thấy có mối liên quan giữa việc có QHTD trước hôn nhân với một loạt các hành vi cá nhân sau đây ỏ' nam VTN: hút thuốc lá. hút cần sa (marijuana), dùng rượu, có mang dao theo trong người, đi chơi tối một mình, đã từng thử tự tử và từng bị tai nạn ô tô. Trong khi đó các yếu tố liến quan ở nữ VTN bao gồm: hút cần sa, dùng ruợu, và đi chơi tối một mình.
Lugoe (1996) cũng tiến hành nghiên cứu về lần đầu QHTD tại 7 trường trung học ỏ' Arusha, Tanzania (Lugoe, Klepp et al. Kết quà cho thấy VTN ở bậc học cao hơn và VTN theo Thiên chúa giáo là những trẻ có tỷ lệ QHTD cao hơn những đối tượng ờ bậc học thắp hơn, theo đạo Hồi và các tôn giáo khác. Klepp và cs (1996) cũng tìm hiểu ý định quan hệ tình dục trong số hơn 2000 học sinh lóp 6 và lóp 7 tại 18 trường Trung học ớ Tanzania (Klepp K. Ndeki et al.
Tác giả dựa trên khung lý 6 thuyết “Hành động có Suy xét” (Theory of Reasoned Action) đê nghiên cứu tại sao thanh thiếu niên lại quyết định có hay không có ỌHTD. Ket quả cho thấy một tỳ lệ khá cao học sinh từng có QHTD (63% ở nam và 24% ỏ' nữ). Thái độ ủng hộ QHTD và sự tự tin là những yếu tố liên quan rõ rệt tói việc có QHTD, tuy nhiên việc từng có những hành động âu yếm trước dó là yếu tố quyết định đến hành vi ỌHTD của nhóm VTN này. Meekers và Calves tìm hiểu sự khác biệt về giới trong ỌHTD trước hôn nhân, sử dụng BCS và nạo phá thai tại Cameroon (Meekers and Calves 1997).
Chi có duy nhất hai yểu tố có liên quan tới việc QHTD trước tuổi 16 là: lứa tuổi và trình độ học vấn. Những trẻ VTN tuổi 15-20 có tỷ lệ từng QHTD trước 16 tuổi cao gấp hon hai lần nhóm thanh niên 21-26 tuổi. Vì đây là một nghiên cứu cất ngang, điều này gợi ý rằng có thể có những sự thay đổi nhanh chóng về quan niệm và hành vi giữa các nhóm tuối trẻ.