CHƯƠNG 1 NGUỒN LỢI THỦY SẢN MH32 - 01 Giới thiệu: Nguồn lợi thủy sản tại vùng biển và vùng nước nội địa của Việt Nam rất đa dạng về thành phần và chủng loại. Đặc biệt là nguồn lợi thủy sản từ biển đóng góp rất lớn về sản lượng và cung cấp nguồn nguyên liệu dồi dào cho ngành chế biến ở nước ta. Mục tiêu: Kiến thức: Khái quát về nguồn lợi thủy sản của Việt Nam bao gồm cả nguồn lợi nước ngọt, nước lợ và nước mặn có ý nghĩa trong lĩnh khai thác và nuôi trồng thủy sản. Kỹ năng: Phân biệt thành thạo các loài cá, tôm, nhuyễn thể kinh tế là nguồn nguyên liệu cho sơ chế và chế biến thủy sản.
Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Phát triển ý thức trung thực, khách quan trong nghiên cứu và ứng dụng sơ chế sản phẩm vào thực tế của ngành nghề. Nguồn lợi chung của biển Việt Nam Việt Nam có đường bờ biển dài hơn 3.260 km, vùng đặc quyền kinh tế rộng hơn 1 triệu km2, hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ (2.773 đảo ven bờ và hơn 200 đảo xa bờ), có 114 cửa sông, 12 đầm phá, 50 vũng/vịnh ven bờ, trong đó vùng nội thủy, lãnh hải chiếm 37% diện tích, có nhiều đảo, cụm đảo xen kẽ tạo nên tính đa dạng về cảnh quan tự nhiên, sinh thái và nguồn lợi thủy sản, đóng vai trò quan trọng cho hoạt động khai thác thủy sản, phát triển ngành kinh tế biển nói chung, kinh tế thủy sản nói riêng. Bên cạnh đó, Việt Nam có mạng lưới sông ngòi dày đặc với tổng chiều dài hơn 41.360 con sông có chiều dài từ 10 km trở lên; trong đó, có 109 sông chính và hàng nghìn hồ chứa tự nhiên và nhân tạo, đây là hệ thống thủy vực có mức độ đa dạng sinh học nguồn lợi thủy sản cao, đặc biệt là hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình, sông Đồng Nai, sông Cửu Long. Theo thống kê, Việt Nam có khoảng 544 loài cá nước ngọt (243 loài cá ở các sông miền Bắc, 134 loài ở miền Trung và 255 loài ở miền Nam), 700 loài động vật không xương sống, trong đó có nhiều loài nguy cấp, quý, hiếm có giá trị về kinh tế, khoa học.
Tiềm năng thủy sản tự nhiên ở các vùng nước nội địa của Việt Nam rất lớn để phát triển khai thác, nuôi trồng và duy trì sinh kế cho người dân. Trong những năm qua, ngành Thủy sản đã phát triển tạo ra nhiều sản phẩm, hàng hóa xuất khẩu có giá trị kinh tế cao. Năm 2019, tốc độ tăng giá trị sản xuất 1 thủy sản (giá so sánh năm 2010) đạt 6,25% so với năm 2018, tổng sản lượng đạt khoảng 8,15 triệu tấn, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó sản lượng khai thác đạt 3,77 triệu tấn, tăng 4,5%, nuôi trồng đạt 4,38 triệu tấn, tăng 5,2%. Kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 8,6 tỷ USD.
Sự phát triển của ngành Thủy sản đã góp phần quan trọng vào quá trình xóa đói giảm nghèo, cải thiện sinh kế cho cộng đồng ngư dân, cải thiện an ninh lương thực, bảo vệ chủ quyền của đất nước. Tuy nhiên, ngành Thủy sản đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức, trong đó có sự suy giảm nguồn lợi thủy sản trên các thủy vực nội địa, vùng biển và ven biển, nguyên nhân chủ yếu là do số lượng tàu cá khai thác thủy sản quá nhiều, đặc biệt tàu cá công suất nhỏ khai thác ven bờ với nghề khai thác thiếu thân thiện với nguồn lợi; khai thác thuỷ sản sử dụng xung điện, chất nổ, chất độc; khai thác sai vùng của tàu cá có chiều dài lớn hoạt động ở vùng biển ven bờ; kích thước mắt lưới của ngư cụ khai thác nhỏ hơn so với quy định (nghề đăng đáy, nghề lồng xếp…); ô nhiễm môi trường do phát triển của một số ngành kinh tế khác như công nghiệp, du lịch… Hiện nay, tình hình trong nước và bối cảnh quốc tế có nhiều thay đổi, biến đổi khí hậu và nước biển dâng đã tác động sâu sắc đến hoạt động sản xuất kinh doanh thủy sản nói chung và công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản nói riêng. Hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng với nhiều hiệp định thương mại tự do đã được ký kết, tạo nhiều cơ hội cho ngành Thủy sản mở rộng thị trường xuất khẩu, đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức, cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Cùng với đó, tình hình an ninh trên Biển Đông diễn biến phức tạp, các nước trong khu vực tăng cường tuần tra trên biển, bắt giữ, xử lý tàu cá nước ngoài xâm phạm trái phép.
Năm 2017, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật Thủy sản thay thế Luật Thuỷ sản 2003 với nguyên tắc, khai thác nguồn lợi thủy sản phải căn cứu và trữ lượng nguồn lợi thủy sản, gắn bảo vệ, tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản, không làm cạn kiệt nguồn lợi thủy sản, không ảnh hưởng đến đa dạng sinh học; với cách tiếp cận thận trọng, dựa vào hệ sinh thái và các chỉ số khoa học trong quản lý hoạt động thuỷ sản để bảo đảm phát triển nghề cá bền vững và có trách nhiệm; trong đó có 01 chương quy định về bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản. Cùng với đó, nhà nước cũng đã đề cập đến tầm quan trọng của công tác bảo vệ, bảo tồn và phát triển nguồn lợi thủy sản, thể hiện quyết tâm của hệ thống chính trị đối với bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Một số loài cá kinh tế ở biển Việt Nam 2 Các loài cá biển có giá trị kinh tế trong khai thác, đánh bắt rất đa dạng và phong phú. Có thể kể đến một số loài như sau: - CÁ BA THÚ Rastrelliger brachysoma (Bleeker, 1851) - CÁ BẠC MÁ Rastrelliger kanagurta (Cuvier, 1817) - CÁ BẠCH ĐIỀU Gymnocranius griseus (Schlegel, 1843) - Nhóm CÁ BÈ Scomberoides sp (Chorinemus lysan) (Forskal, 1775) (Cá bè cam hay cá thu bè) - Nhóm CÁ BÒ - Nhóm cá Bơn - Nhóm CÁ CAM - Cá CĂNG VẢY TO Therapon theraps (Cuvier & Valenciennes, 1829) - Cá CHAI Platycephalus indicus (Linnaeus, 1758) - CÁ CHẼM Lates calcarifer (Bloch, 1790) - CÁ CHỈ VÀNG Selaroides leptolepis (Valenciennes, 1833) - Nhóm CÁ CHIM - Nhóm CÁ CỜ - Nhóm CÁ CƠM - CÁ DẦM Kyphosus vaigiensis (Quoy & Gaimard, 1825) - CÁ DƯA XÁM Muraenesox cinereus (Forskal, 1775) Cá Lạt, cá Dưa, cá Dưa xám - CÁ DÌA CÔNG Siganus guttatus (Bloch, 1787) - CÁ ĐẦU VUÔNG Branchiostegus japonicus (Houttuyn, 1782) Cá Đổng quéo, Cá Nàng đào - CÁ ĐỐI MỤC Mugil cephalus (Linnaeus, 1758) - Nhóm CÁ ĐÙ - Nhóm CÁ ĐUỐI - CÁ GIÒ Rachycentron canadum (Linnaeus, 1766) Cá bớp biển - CÁ HANH VÀNG Taius tumifrons (Temminck & Schlegel, 1842) Cá bánh đường ba chấm, cá tráp vàng - Nhóm CÁ HÈ 3 - CÁ HỐ Trichiurus lepturus (Linnaeus, 1758) Cá Hố, Cá Đao, Cá Hố đầu rộng - Nhóm CÁ HỒNG Lutjanus argentimaculatus (Forskal, 1775) Cá Hồng, Cá Hường - Nhóm CÁ KẼM - Nhóm CÁ KHẾ - CÁ KHOAI Harpodon nehereus (Hamilton-Buchwanan, 1822) - CÁ LẦM BỤNG DẸP Dussumieria acuta (Cuvier & Valenciennes, 1847) - Nhóm CÁ LIỆT - Nhóm CÁ LƯỢNG - Nhóm CÁ MẬP - CÁ MĂNG BIỂN Chanos chanos (Forskal, 1775) - CÁ MÓ VỆT XANH Scarus ghobban (Forskal, 1775) Cá mó vẹt, Cá mó xanh, Cá mó vệt xanh, Cá mó - CÁ MỐI DÀI Saurida elongata (Teminck & Schlegel, 1846) Cá mối, cá thửng, cá mối lưng dài - Nhóm CÁ MÚ - CÁ MŨI KIẾM Xiphias gladius (Linnaeus, 1758) Cá Cờ kiếm, Cá kiếm - CÁ NGÂN Atule mate (Cuvier & Valenciennes, 1833) - Nhóm CÁ NGỪ - CÁ NGỰA GAI DÀI Hippocampus histrix (Kaup, 1856) - Nhóm CÁ NHÁM - Nhóm CÁ NHỒNG ĐUÔI VÀNG Sphyraena obtusata (Cuvier & Valenciennes, 1829) - Nhóm CÁ NHỤ - Nhóm CÁ NỤC - Nhóm CÁ PHÈN - CÁ RÔ BIỂN Lobotes surinamensis (Bloch, 1790) - Nhóm CÁ SÒNG - Nhóm CÁ THU 4 - Nhóm CÁ TRÁO - Nhóm CÁ TRÍCH - Nhóm CÁ ÚC Về hình dạng, cá biển rất phong phú về hình dạng cũng như là về chủng loại trong tự nhiên.
Rất nhiều loài có thể sống ở điều kiện độ mặn cao có thể kể đến các loài như cá ngừ đại dương, cá nục, cá trích, cá kiếm, cá chim biển, cá nhòng, cá sòng, cá thu, cá bạc má. Tuy nhiên cũng có nhiều loài có thể phân bố ở các vùng nước lợ có độ mặn trung bình và thấp. Đó là các vùng ven biển, rừng ngập mặn và các cửa sông lớn như cá chẽm, cá ngát, cá nâu, cá kèo, cá đối, cá mú.Một số loài có thể di cư sinh sản vào vùng nước ngọt như cá chình. Nhiều loài cá biển sống ở các độ sâu khác nhau.
Chúng có thể sống ở tầng mặt, và các tầng nước sâu trong biển và đại dương. Có thể sống đơn lẻ hoặc bầy đàn. Điển hình có nhiều loài cá sống thành đàn và có thể tập trung hàng trăm đến hàng ngàn tấn/đàn.1: Một số loài cá biển thường gặp 3. Một số loài cá nước ngọt kinh tế 3.
Cá thát lát Cá thát lát, tên gọi khoa học là Notopterus notopterus, thuộc họ Cá thát lát (Notopteridae). Chúng có thân dài (khoảng 400mm), dẹt, đuôi rất nhỏ cùng với vảy nhỏ phủ toàn bộ thân cá. Miệng khá to và có mõm ngắn. Trung bình cá nặng khoảng 200gr, có khi đến 500gr.
Thường thấy cá thát lát có màu xám ở lưng và màu trắng bạc ở phần bụng, trong khi màu vàng ở dưới viền xương nắp mang. 6 Ở Việt Nam, loại cá này có tốc độ sinh trưởng tốt nên sản lượng nhiều, được phân bố chủ yếu ở sông Đồng Nai, các vùng đồng bằng sông Cửu Long, các tỉnh miền Trung,… và Tây Nguyên. Cá chạch Cá chạch thuộc lớp Cá vây tia (Actinopterygii). Đặc điểm hình dạng của cá chạch khá giống con lươn, mình dài với nhiều sợi tua và râu thịt phát triển ở xung quanh bộ phận miệng.
Cá chạch thường phân bố ở khu vực tây bắc châu Phi, châu Á và châu Âu. Cá trê Cá trê hoặc họ Cá trê nói chung đều có tên gọi khoa học là Clariidae, gồm khoảng 114 loài cá trê đều sống trong môi trường nước ngọt. Phần lớn, cá trê sống ở khu vực Đông Nam Á nhưng loài đa dạng nhất là ở châu Phi. Mỗi loại cá trê có đặc điểm hình dạng khác nhau.
Chẳng hạn, cá trê đen (còn gọi là cá trê Hồng Kông) có thân đen dài, lớp da nhẵn bóng; phần đầu dẹt bằng, trong khi phần thân và đuôi có xu hướng dẹt bên; miệng rộng, răng sắc nhọn cùng với bốn đôi râu dài; mắt nhỏ và lỗ mũi cách xa nhau. Hoặc cá trê vàng xám có đầu dẹp, thân tròn thon dài và dẹp dần về phía đuôi, da trơn nhẵn và vây màu đen có đốm thẫm; mắt nhỏ, khoảng cách 2 mắt rộng, miệng to và có bốn đôi râu dài.