Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Giáo dục sức khỏe (GDSK) được Tuyên ngôn Alma-Ata (1978) xác định là giải pháp hàng đầu nhằm hiện thực hóa chiến lược toàn cầu "Sức khỏe cho mọi người". Tại Việt Nam, GDSK được Bộ Y tế xếp ở vị trí số một trong mười nội dung trọng tâm của Chăm sóc sức khỏe ban đầu. Đây là một bộ phận thiết yếu của hoạt động y tế nhằm thay đổi hành vi của cá nhân và cộng đồng từ có hại thành có lợi, góp phần hạ thấp tỷ lệ mắc bệnh, giảm tỷ lệ tàn phế và tử vong, đồng thời tối ưu hóa chi phí điều trị.

Trong cơ cấu nhân lực y tế, đội ngũ điều dưỡng chiếm số lượng đông đảo nhất và là lực lượng trực tiếp, thường xuyên tiếp xúc với người bệnh từ giai đoạn tiếp đón nhập viện, quá trình điều trị nội trú cho đến khi xuất viện. Hoạt động tư vấn và GDSK của người điều dưỡng giữ vai trò quyết định đến việc cải thiện triệu chứng, giảm thiểu biến chứng, hạn chế tần suất tái nhập viện do các đợt cấp và giúp người bệnh thích ứng tốt với bệnh tật. Ngược lại, nếu công tác GDSK không được thực hiện hiệu quả, người bệnh sẽ thiếu hiểu biết về tình trạng bệnh lý, không tuân thủ phác đồ điều trị, dẫn đến nguy cơ bệnh diễn tiến nặng, suy hô hấp hoặc thậm chí tử vong.

Tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Phúc Yên, công tác điều dưỡng và GDSK luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo từ Đảng ủy và Ban Giám đốc. Tuy nhiên, theo kết quả đánh giá công tác chăm sóc điều dưỡng năm 2020 tại Khoa Nội tổng hợp, hoạt động GDSK cho người bệnh vẫn còn bộc lộ nhiều điểm hạn chế, thiếu tính thường xuyên và chưa đạt được hiệu quả đồng đều giữa các khâu. Nhằm xác định nguyên nhân và đưa ra các giải pháp can thiệp cụ thể, đề tài "Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến công tác giáo dục sức khỏe cho người bệnh tại khoa Nội tổng hợp, Bệnh viện Đa khoa khu vực Phúc Yên năm 2020" được học viên Nguyễn Thị Xuân thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS. Lê Thanh Tùng tại Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định.

Nhiệm vụ của nghiên cứu được cụ thể hóa qua hai mục tiêu:

  1. Mô tả thực trạng về công tác Giáo dục sức khỏe cho người bệnh tại Khoa Nội tổng hợp, Bệnh viện Đa khoa khu vực Phúc Yên năm 2020.
  2. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến công tác Giáo dục sức khỏe cho người bệnh tại Khoa Nội tổng hợp, Bệnh viện Đa khoa khu vực Phúc Yên năm 2020.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu định lượng: Toàn bộ 30 điều dưỡng đang trực tiếp làm việc tại Khoa Nội tổng hợp và 200 người bệnh điều trị nội trú tại khoa từ ngày 15/10/2020 đến ngày 15/11/2020 (loại trừ các bệnh nhân không tỉnh táo hoặc từ chối tham gia).
  • Đối tượng nghiên cứu định tính: Mẫu có chủ đích gồm 01 Điều dưỡng trưởng khoa và 02 Điều dưỡng viên trực tiếp thực hiện công tác tư vấn, GDSK.
  • Không gian nghiên cứu: Khoa Nội tổng hợp, Bệnh viện Đa khoa khu vực Phúc Yên.
  • Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10 năm 2020 đến tháng 12 năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên hệ thống cơ sở lý thuyết điều dưỡng kinh điển và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành của ngành y tế:

  • Khung lý thuyết điều dưỡng: Thuyết môi trường của Florence Nightingale nhấn mạnh việc bảo vệ không gian sống quanh người bệnh để thúc đẩy quá trình hồi phục; định nghĩa điều dưỡng của Virginia Henderson (thập niên 1960) xác định chức năng cơ bản của người điều dưỡng là hỗ trợ các cá thể thực hiện các hoạt động bảo vệ, phục hồi sức khỏe mà họ không thể tự thực hiện, đáp ứng toàn diện các nhu cầu thể chất, tâm lý, xã hội và tinh thần; định nghĩa của Hội Điều dưỡng Canada (1984); nhận định của Danielsson và cộng sự (1988) về sự bổ trợ giữa chăm sóc và điều trị.
  • Phân định vai trò và chức năng của điều dưỡng: Gồm 3 chức năng nghề nghiệp (chức năng độc lập, chức năng phụ thuộc, chức năng phối hợp) và 4 vai trò chính đối với người bệnh (người chăm sóc lâm sàng, người truyền đạt thông tin, người tư vấn, người biện hộ).
  • Khung pháp lý và quy chuẩn chuyên môn: Thông tư số 07/2011/TT-BYT ngày 26/01/2011 của Bộ Y tế Hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện (trong đó nhiệm vụ thứ nhất trong 12 nhiệm vụ của điều dưỡng là tư vấn, GDSK); Bộ 83 tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện của Bộ Y tế; Khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) về tỷ lệ tối thiểu 1 bác sĩ / 4 điều dưỡng (so với thực trạng 1 bác sĩ / 1,8 điều dưỡng tại Việt Nam).
  • Khái niệm và phương pháp GDSK: GDSK trực tiếp (tư vấn cá nhân, nói chuyện phổ biến kiến thức y học thường thức, thảo luận nhóm quy mô 6–10 người, đối thoại trực tiếp trong chăm sóc) và GDSK gián tiếp (qua truyền thanh, truyền hình, video, pano, áp phích, tranh lật, tờ rơi, sách chuyên đề).

Phương pháp nghiên cứu được triển khai theo mô hình mô tả cắt ngang, kết hợp giữa phương pháp định lượng và định tính:

  • Nghiên cứu định lượng:
    • Khảo sát kiến thức GDSK của 30 điều dưỡng bằng bộ câu hỏi trắc nghiệm chuẩn hóa (tham khảo bộ công cụ của Lê Thị Loan) gồm 30 câu hỏi thuộc 7 nhóm kỹ năng: kỹ năng làm quen; kỹ năng quan sát; kỹ năng lắng nghe; kỹ năng đặt câu hỏi; kỹ năng giải thích; kỹ năng sử dụng tài liệu GDSK; kỹ năng khuyến khích, động viên, khen ngợi. Điểm số được quy đổi về thang đo 100% với các mức phân loại: Xuất sắc (>90%), Giỏi (80%–90%), Khá (70%–80%), Trung bình (60%–70%), Yếu (<60%).
    • Khảo sát ý kiến của 200 người bệnh bằng phiếu điều tra theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế nhằm đánh giá tỷ lệ thực hiện các nội dung tư vấn, thời điểm, địa điểm, phương thức tiếp cận và mức độ hài lòng.
  • Nghiên cứu định tính: Phỏng vấn sâu bằng hướng dẫn phỏng vấn bán cấu trúc với 01 Điều dưỡng trưởng và 02 Điều dưỡng viên tại phòng giao ban khoa Nội tổng hợp (thời lượng 15–20 phút/cuộc, có ghi âm và gỡ băng) nhằm thu thập thông tin chuyên sâu về thuận lợi, khó khăn, rào cản hành chính và đề xuất giải pháp.
  • Nguồn dữ liệu: Bộ câu hỏi điều tra kiến thức điều dưỡng, phiếu lấy ý kiến người bệnh, biên bản phỏng vấn sâu, hồ sơ bệnh án và báo cáo kiểm tra công tác chăm sóc người bệnh của bệnh viện.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các luận điểm lý thuyết về GDSK và vai trò của điều dưỡng trong chăm sóc người bệnh:

  • Bản chất của GDSK: Được định nghĩa là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch lên tình cảm và lý trí của con người nhằm tạo ra hành vi có lợi hoặc làm thay đổi hành vi sức khỏe từ có hại thành có lợi, giúp đối tượng tự nguyện, tự giác thay đổi hành vi của chính mình.
  • Phân tích các phương pháp và phương tiện GDSK: Phương pháp trực tiếp có ưu điểm nhận thông tin phản hồi nhanh, tính điều chỉnh cao nhưng đòi hỏi điều dưỡng phải có kỹ năng giao tiếp và tư vấn tốt. Phương pháp gián tiếp giúp phổ biến thông tin rộng rãi nhưng chi phí kỹ thuật cao và khó đánh giá ngay mức độ tiếp nhận. Phương tiện truyền thông được chia thành: lời nói, chữ viết, phương tiện trực quan (tranh, ảnh, pano) và phương tiện nghe nhìn (ti vi, video).
  • Nội dung trọng tâm của GDSK lâm sàng: Cung cấp thông tin về sinh bệnh học của bệnh, hướng dẫn kỹ thuật sử dụng thuốc và tầm quan trọng của việc tuân thủ phác đồ, hướng dẫn chế độ dinh dưỡng, nhận biết và xử trí sớm các dấu hiệu cảnh báo tiến triển nặng, cách ly phòng ngừa kiểm soát nhiễm khuẩn, hướng dẫn phục hồi chức năng và tự chăm sóc sau khi xuất viện.
  • Lịch sử phát triển và vai trò của ngành Điều dưỡng: Phân tích sự chuyển biến từ vai trò phụ thuộc mang tính "y tá" cầm tay chỉ việc trước năm 1990 sang một ngành khoa học độc lập với hệ thống quản lý điều dưỡng các cấp hiện nay, đồng thời chỉ ra thực trạng thiếu hụt nhân lực điều dưỡng tại Việt Nam khi so sánh với chuẩn khu vực và khuyến cáo của WHO.

Chương 2: Thực trạng công tác giáo dục sức khỏe của điều dưỡng

Chương 2 trình bày tổng quan các nghiên cứu trong nước, quốc tế và công bố số liệu khảo sát thực tế tại Khoa Nội tổng hợp, Bệnh viện Đa khoa khu vực Phúc Yên:

  • Tổng quan y văn: Nghiên cứu của Bekele Chala (2005) tại Ethiopia cho thấy chỉ 40% người bệnh hài lòng với thông tin bệnh tật nhận từ điều dưỡng; nghiên cứu của Bùi Thị Bích Ngà (2011) tại Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương ghi nhận công tác GDSK chỉ đạt 49,6%; nghiên cứu của Dương Thị Bình Minh (2012) tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Xô chỉ ra tỷ lệ GDSK đạt 66,2%; nghiên cứu của Phạm Thị Loan (2006) tại Bệnh viện C Thái Nguyên và Nguyễn Thị Thanh Điều (2007) tại Viện Chấn thương - Chỉnh hình Quân đội 108 ghi nhận các kỹ thuật chăm sóc cơ bản đạt trên 95% nhưng tư vấn tự chăm sóc và phòng bệnh chỉ đạt 77,5%–78,3%; nghiên cứu của Phạm Khánh Vân (2009) tại Hà Giang ghi nhận 10,58% điều dưỡng không hướng dẫn chế độ ăn.
  • Đặc điểm nhân khẩu học của điều dưỡng tham gia nghiên cứu (n = 30): Tỷ lệ điều dưỡng dưới 30 tuổi là 46,7% (14 người) và từ 30 tuổi trở lên là 53,3% (16 người); 96,7% là nữ giới (29 người); 83,3% có trình độ đại học, cao đẳng (25 người) và chưa có trình độ sau đại học; 50,0% có thâm niên công tác từ 5 đến 10 năm.
Đặc điểm nhân khẩu học Phân nhóm Số lượng (n = 30) Tỷ lệ (%)
Độ tuổi < 30 tuổi 14 46,7
≥ 30 tuổi 16 53,3
Giới tính Nữ 29 96,7
Nam 1 3,3
Trình độ chuyên môn Đại học, Cao đẳng 25 83,3
Trình độ khác 5 16,7
Sau đại học 0 0,0
Thâm niên công tác 5 – 10 năm 15 50,0
Nhóm thâm niên khác 15 50,0
  • Đánh giá kiến thức về GDSK của điều dưỡng (n = 30): Không có điều dưỡng đạt mức Xuất sắc (0%) hoặc mức Kém (0%). Đa số điều dưỡng có kiến thức ở mức Khá (66,7%, tương ứng 20 người). Tỷ lệ điều dưỡng đạt mức Giỏi và mức Trung bình tương đương nhau, đều chiếm 16,7% (05 người mỗi nhóm).
Mức độ kiến thức Số lượng (n = 30) Tỷ lệ (%)
Xuất sắc (> 90%) 0 0,0
Giỏi (80% – 90%) 5 16,7
Khá (70% – 80%) 20 66,7
Trung bình (60% – 70%) 5 16,7
Yếu / Kém (< 60%) 0 0,0
  • Đánh giá của người bệnh về chất lượng GDSK của điều dưỡng (n = 200): Các nội dung đạt tỷ lệ cao gồm hướng dẫn sử dụng thuốc (90,0%), hướng dẫn ra viện, tự chăm sóc và theo dõi tại cộng đồng (89,0%), giải thích tình trạng bệnh và kế hoạch chăm sóc (86,0%–89,0%), hướng dẫn nội quy bệnh viện (80,0%). Một số nội dung có tỷ lệ thực hiện thấp: hướng dẫn hoạt động thể lực (71,0%–71,5%), hướng dẫn phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn (67,5%), tư vấn chế độ ăn uống cho người bệnh chỉ đạt 50,5%.
Nội dung GDSK được đánh giá Có thực hiện (Số lượng) Tỷ lệ (%) Không thực hiện (Số lượng) Tỷ lệ (%)
Hướng dẫn sử dụng thuốc 180 90,0 20 10,0
Hướng dẫn ra viện, tự chăm sóc tại cộng đồng 178 89,0 22 11,0
Giải thích bệnh và phương pháp chăm sóc 172 86,0 28 14,0
Hướng dẫn nội quy khoa phòng, bệnh viện 160 80,0 40 20,0
Hướng dẫn hoạt động thể lực, vận động 142 71,0 58 29,0
Hướng dẫn phòng ngừa kiểm soát nhiễm khuẩn 135 67,5 65 32,5
Hướng dẫn chế độ ăn hợp lý 101 50,5 99 49,5
  • Thời điểm, địa điểm và phương pháp thực hiện GDSK:
    • Thời điểm: GDSK cho người bệnh mới vào viện đạt 96,1% (98/102 người); người bệnh chuẩn bị ra viện đạt 80,9% (51/63 người); người bệnh đang trong quá trình điều trị nội trú đạt 77,1% (54/70 người), tần suất trung bình 1 lần/ngày.
    • Địa điểm: Phòng bệnh đạt 88,1% (148/168 lượt quan sát); Phòng tư vấn đạt 86,5% (891/1030 lượt); Phòng đón tiếp đạt 80,4% (720/895 lượt).
    • Phương pháp: Tư vấn trực tiếp chiếm ưu thế tuyệt đối với 96,9% (602/627 lượt); tư vấn gián tiếp qua tờ rơi và hệ thống phát thanh đạt 83,9%.
  • Phân tích các yếu tố liên quan qua phỏng vấn sâu:
    • Hoạt động GDSK chủ yếu bị lồng ghép trong các buổi họp Hội đồng người bệnh cấp khoa, thiếu các buổi tư vấn chuyên biệt cho từng nhóm mặt bệnh cụ thể.
    • Áp lực thủ tục hành chính quá nặng nề (sao chép sổ thuốc, sổ tiêm, hoàn thiện hồ sơ bệnh án, ghi chép công khai thuốc...) làm giảm quỹ thời gian trực tiếp bên giường bệnh của điều dưỡng.
    • Cơ sở vật chất và tài liệu truyền thông còn thiếu thốn: chưa bố trí được góc GDSK riêng tại khoa, thiếu tờ rơi, tranh ảnh minh họa, đĩa hình chuyên khoa.
    • Cơ chế giám sát, kiểm tra từ Phòng Điều dưỡng và lãnh đạo khoa chưa liên tục; thiếu quy chế khen thưởng, xử phạt rõ ràng đối với hoạt động GDSK.

Chương 3: Đề xuất giải pháp

Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ ở hai cấp độ nhằm nâng cao hiệu quả công tác GDSK tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Phúc Yên:

  • Nhóm giải pháp đối với Bệnh viện và Khoa:
    • Xây dựng, chuẩn hóa và cập nhật hệ thống tài liệu truyền thông GDSK; trang bị đầy đủ tờ rơi, áp phích, đĩa hình cho từng mặt bệnh phổ biến tại Khoa Nội tổng hợp.
    • Thiết lập "Góc giáo dục sức khỏe" tại khoa lâm sàng, có bố trí bàn ghế, phương tiện trực quan và tài liệu hướng dẫn phù hợp.
    • Đa dạng hóa hình thức truyền thông: kết hợp linh hoạt giữa tư vấn trực tiếp cá nhân, thảo luận nhóm người bệnh và truyền thông gián tiếp qua hệ thống loa đài nội bộ.
    • Thành lập các "Câu lạc bộ người bệnh" theo từng chuyên khoa (như câu lạc bộ bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, tăng huyết áp...) để tạo diễn đàn trao đổi kinh nghiệm điều trị.
    • Tăng cường sự phối hợp liên chuyên khoa giữa Khoa Dinh dưỡng và Khoa Nội tổng hợp trong việc xây dựng thực đơn và tư vấn chế độ ăn bệnh lý.
    • Bổ sung nhân lực điều dưỡng, tối ưu hóa quy trình hành chính và tổ chức làm việc theo ca kíp hợp lý nhằm giảm tải áp lực, tăng thời gian chăm sóc trực tiếp.
    • Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát định kỳ và đột xuất của Phòng Điều dưỡng, Trưởng khoa và Điều dưỡng trưởng; xây dựng tiêu chí thi đua khen thưởng cụ thể.
  • Nhóm giải pháp đối với Điều dưỡng viên:
    • Tham gia các khóa đào tạo, tập huấn định kỳ nâng cao kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tư vấn GDSK theo quy định của Thông tư 07/2011/TT-BYT.
    • Nâng cao kiến thức bệnh học chuyên sâu; chú trọng hướng dẫn chi tiết về tác dụng không mong muốn của thuốc và hậu quả của việc không tuân thủ điều trị.
    • Đổi mới phong cách, thái độ phục vụ hướng tới sự hài lòng của người bệnh, gắn liền với phong trào xây dựng cơ sở y tế "Xanh - Sạch - Đẹp".

Kết quả và đóng góp

Về kết quả nghiên cứu:

  • Báo cáo đã cung cấp bức tranh định lượng chi tiết về thực trạng GDSK tại Khoa Nội tổng hợp: 100% điều dưỡng tham gia khảo sát đạt mức kiến thức từ trung bình trở lên (66,7% loại Khá, 16,7% loại Giỏi, 16,7% loại Trung bình).
  • Khảo sát 200 người bệnh cho thấy điều dưỡng thực hiện tốt khâu hướng dẫn dùng thuốc (90,0%), hướng dẫn tự chăm sóc khi ra viện (89,0%) và tiếp đón ban đầu (96,1%). Tuy nhiên, các nội dung về tư vấn chế độ ăn (50,5%), phòng chống nhiễm khuẩn bệnh viện (67,5%) và GDSK trong quá trình nằm viện (77,1%) vẫn còn tỷ lệ hạn chế đáng kể.
  • Phân tích định tính đã chỉ rõ 4 rào cản chính: gánh nặng thủ tục hành chính ghi chép giấy tờ, thiếu tài liệu truyền thông trực quan, hoạt động GDSK bị lồng ghép chung với họp Hội đồng người bệnh và thiếu sự giám sát, động viên khen thưởng chuyên biệt.

Về mặt đóng góp:

  • Đóng góp thực tiễn: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng cho Ban Giám đốc và Phòng Điều dưỡng Bệnh viện Đa khoa khu vực Phúc Yên trong việc nhận diện các điểm nghẽn của công tác chăm sóc người bệnh toàn diện tại Khoa Nội tổng hợp năm 2020.
  • Đóng góp về giải pháp: Hệ thống giải pháp được xây dựng bám sát thực tiễn lâm sàng, phân định rõ trách nhiệm của cấp quản lý bệnh viện và trách nhiệm tự hoàn thiện của từng điều dưỡng viên, có tính khả thi trong việc tối ưu hóa quy trình làm việc và thành lập góc GDSK chuyên biệt.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu:
    • Phạm vi nghiên cứu mới chỉ thực hiện tại một đơn vị duy nhất là Khoa Nội tổng hợp thuộc Bệnh viện Đa khoa khu vực Phúc Yên.
    • Cỡ mẫu điều dưỡng còn khiêm tốn (n = 30), phản ánh quy mô nhân lực của một khoa lâm sàng nên chưa mang tính đại diện cho toàn bệnh viện.
    • Thời gian thu thập số liệu trên người bệnh diễn ra trong thời gian ngắn (từ 15/10/2020 đến 15/11/2020), chưa khảo sát được biến động theo các mùa bệnh lý khác nhau trong năm.
    • Do điều kiện nguồn lực của một báo cáo chuyên đề tốt nghiệp, nghiên cứu mới dừng lại ở thiết kế mô tả cắt ngang, chưa triển khai các mô hình can thiệp thực nghiệm để đánh giá sự thay đổi hành vi sức khỏe lâu dài của người bệnh.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi khảo sát ra toàn bộ các khoa lâm sàng (Ngoại, Sản, Nhi, Truyền nhiễm...) trong Bệnh viện Đa khoa khu vực Phúc Yên để có đánh giá toàn diện.
    • Triển khai các nghiên cứu can thiệp có đối chứng, đánh giá hiệu quả của các khóa tập huấn kỹ năng GDSK cho điều dưỡng đối với mức độ tuân thủ điều trị và tỷ lệ tái nhập viện của người bệnh mạn tính.

Giá trị tham khảo

Báo cáo chuyên đề tốt nghiệp là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Học viên, sinh viên chuyên ngành Điều dưỡng (đặc biệt là Điều dưỡng Nội người lớn và Điều dưỡng Chuyên khoa I) trong việc tham khảo phương pháp luận kết hợp định lượng và định tính, cấu trúc thiết kế một nghiên cứu mô tả thực trạng lâm sàng.
  • Điều dưỡng trưởng, cán bộ quản lý Phòng Điều dưỡng tại các bệnh viện tuyến quận, huyện, khu vực nhằm tham khảo khung tiêu chí đánh giá kiến thức kỹ năng GDSK (7 nhóm kỹ năng) và phiếu khảo sát trải nghiệm của người bệnh.
  • Các nhà nghiên cứu y tế công cộng và quản lý bệnh viện có thể tái sử dụng bộ công cụ điều tra tại phụ lục (bộ câu hỏi kiến thức 30 câu, phiếu lấy ý kiến người bệnh và hướng dẫn phỏng vấn sâu) cho các đề tài khảo sát chất lượng dịch vụ y tế tương tự.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ kiến thức về tư vấn giáo dục sức khỏe của điều dưỡng tại Khoa Nội tổng hợp được phân loại như thế nào?
Kết quả kiểm tra kiến thức trên 30 điều dưỡng cho thấy: 66,7% điều dưỡng đạt mức Khá (20 người); 16,7% đạt mức Giỏi (05 người); 16,7% đạt mức Trung bình (05 người). Không có điều dưỡng nào đạt mức Xuất sắc (>90%) và không có điều dưỡng nào xếp loại Yếu/Kém (<60%).

2. Nội dung giáo dục sức khỏe nào được người bệnh đánh giá cao nhất và nội dung nào đạt tỷ lệ thấp nhất?
Nội dung được người bệnh đánh giá có tỷ lệ thực hiện cao nhất là hướng dẫn sử dụng thuốc (đạt 90,0%, 180/200 người bệnh) và hướng dẫn ra viện, tự chăm sóc tại cộng đồng (đạt 89,0%, 178/200 người bệnh). Ngược lại, nội dung có tỷ lệ thực hiện thấp nhất là hướng dẫn chế độ ăn hợp lý, chỉ đạt 50,5% (101/200 người bệnh).

3. Tỷ lệ người bệnh nhận được giáo dục sức khỏe tại các thời điểm khác nhau trong quá trình điều trị có sự chênh lệch ra sao?
Người bệnh mới vào viện nhận được sự tư vấn, tiếp đón tận tình cao nhất với tỷ lệ 96,1% (98/102 người). Tỷ lệ này ở giai đoạn trước khi xuất viện đạt 80,9% (51/63 người), trong khi ở giai đoạn nằm điều trị nội trú hàng ngày chỉ đạt 77,1% (54/70 người) với tần suất trung bình 1 lần/ngày.

4. Những rào cản hành chính nào ảnh hưởng trực tiếp đến thời gian giáo dục sức khỏe của điều dưỡng theo kết quả phỏng vấn sâu?
Qua phỏng vấn sâu Điều dưỡng trưởng và Điều dưỡng viên, rào cản lớn nhất là khối lượng công việc hành chính gián tiếp quá nhiều như sao sổ thuốc, sao sổ tiêm, ghi chép phiếu chăm sóc và hoàn thiện bảng công khai thuốc mỗi khi bác sĩ thay đổi y lệnh. Điều này làm giảm đáng kể thời gian điều dưỡng tiếp xúc và trao đổi trực tiếp với người bệnh tại giường.

5. Báo cáo đề xuất những giải pháp cơ sở vật chất nào nhằm hỗ trợ công tác giáo dục sức khỏe tại khoa lâm sàng?
Tác giả đề xuất bệnh viện cần thành lập "Góc giáo dục sức khỏe" riêng biệt ngay tại khoa điều trị với đầy đủ bàn ghế, bảng tin, tờ rơi, áp phích và hệ thống nghe nhìn (ti vi, đầu đĩa) theo từng nhóm bệnh, đồng thời thành lập các Câu lạc bộ người bệnh chuyên khoa để chia sẻ kinh nghiệm tự chăm sóc.

Kết luận

Báo cáo chuyên đề tốt nghiệp của học viên Nguyễn Thị Xuân đã phản ánh toàn diện thực trạng công tác giáo dục sức khỏe của điều dưỡng tại Khoa Nội tổng hợp, Bệnh viện Đa khoa khu vực Phúc Yên năm 2020 thông qua phương pháp kết hợp định lượng và định tính. Kết quả cho thấy đội ngũ điều dưỡng cơ bản có kiến thức chuyên môn khá và thực hiện tốt việc hướng dẫn dùng thuốc, tiếp đón và dặn dò khi ra viện, song các khâu tư vấn dinh dưỡng, kiểm soát nhiễm khuẩn và GDSK thường quy trong điều trị vẫn còn hạn chế do áp lực quá tải thủ tục hành chính và thiếu tài liệu chuyên biệt. Các giải pháp đề xuất về chuẩn hóa tài liệu, bố trí góc GDSK, giảm tải hồ sơ giấy tờ và tăng cường đào tạo kỹ năng giao tiếp là cơ sở thực tiễn quan trọng giúp nâng cao chất lượng chăm sóc toàn diện và mức độ hài lòng của người bệnh.