Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÒNG, CHỐNG MA TÚY CHO THANH NIÊN DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG 1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Ở nước ngoài Ma túy vốn có lịch sử từ rất lâu đời, nhưng vài thập kỷ gần đây việc lạm dụng và buôn lậu các chất ma túy đã bùng nổ mạnh mẽ hơn lúc nào hết ở tất cả các quốc gia trên thế giới việc nghiện ma túy đã để lại hậu quả nặng nề cho không chỉ riêng con nghiện mà còn gây hậu quả tai hại cho gia đình và cộng đồng. Việc nghiện ma túy đã dẫn tới một loạt các vấn đề xã hội: Làm gia tăng tội phạm, gây mất trật tự an toàn xã hội.
Tình trạng trộm cắp, bỏ việc, bỏ học tăng, gia đình đổ vỡ. đặc biệt tình trạng sức khỏe của cả cộng đồng suy giảm trong đó một phần lớn là thế hệ thanh niên. Hậu quả tai hại của ma túy đã rõ ràng nhưng việc sản xuất, buôn bán trái phép các chất ma túy lại diễn ra giữa các quốc gia thông qua việc bọn buôn lậu, nhập ma túy từ nước ngoài vào hay xuất ma túy ra nước ngoài. Điều đó khiến các quốc gia không còn có sự lựa chọn nào khác là phải nỗ lực cùng nhau đề ra các biện pháp, chính sách phù hợp, phát huy hết các tiềm năng để giải quyết vấn đề ma túy một cách có hiệu quả, bởi đây đã trở thành vấn đề gai góc của cả cộng đồng quốc tế.
Tại kỳ họp đặc biệt lần thứ 17 ngày 26/6/1988 Đại hội đồng Liên hiệp quốc đã phê chuẩn chương trình hành động toàn cầu nhằm mục đích cộng đồng quốc tế không có buôn lậu và lạm dụng ma túy. Tại kỳ họp này đã thống nhất thập kỷ 1991-2000 là thập kỷ đấu tranh chống ma túy của Liên hiệp quốc nhằm đưa chương trình hành động toàn cầu vào cuộc sống và ngày 26/6 hàng năm được gọi là ngày Quốc tế phòng, chống ma túy. Tại Hội đồng Liên hiệp quốc tổ chức tại Viên ngày 11/01/1971 đến ngày 02/02/1971 đại diện các nước tham dự đã ký công ước quốc tế 1971 về các chất hướng thần [1]. Công ước này lần đầu tiên quy định các chất hướng thần, được chia làm 4 bảng.
Bảng 1 gồm các chất bị nghiêm cấm trừ việc sử dụng cho y tế và nghiên 7 cứu khoa học. Bảng 2,3,4 quy định các chất cụ thể và việc các bên tham gia công ước phải áp dụng các biện pháp đặc biệt để kiểm soát việc sản xuất, vận chuyển, buôn bán và lưu thông các chất hướng thần [1]. Công ước còn quy định quyền được kiểm tra các kho bãi lưu trữ các chất hướng thần đã đăng ký và các phòng hóa học. Về thành phần các chất hướng thần tổ chức y thế thế giới có trách nhiệm nghiên cứu và phân tích cũng như việc bổ sung thêm vào danh mục các chất hướng thần mới xuất hiện.
Trước tệ nạn ma túy ngày càng tăng, nhất là tệ nạn buôn bán và lạm dụng ma túy. Năm 1988 Liên hiệp quốc đã triệu tập hội nghị gồm các đại diện toàn quyền của 106 nước được tổ chức tại Áo để phê chuẩn công ước quốc tế của Liên hiệp quốc về phòng, chống buôn bán bất hợp pháp các chất ma túy và các chất hướng thần. Công ước quốc tế năm 1988 của Liên hiệp quốc có ý nghĩa rất quan trọng. Tại công ước này lần đầu tiên khái niệm về tội phạm và hình phạt các hành vi phạm tội liên quan đến ma túy được quy định một cách cụ thể.
Các nước tham gia có thể dựa vào công ước này để soạn thảo, vận dụng vào các văn bản pháp luật hình sự của nước mình. Công ước gồm 34 điều với các nội dung cơ bản như: Đưa ra các biện pháp hữu hiệu chống lại bọn buôn lậu ma túy quốc tế; quy định sự phối hợp, hợp tác quốc tế trong phát hiện, khám phá, điều tra các vụ án xuyên quốc gia liên quan đến ma túy; vấn đề dẫn độ tội phạm; chuyển giao hồ sơ vụ án; chuyển quyền thụ lý, xét xử tiếp các vụ án hình sự liên quan đến ma túy. Với trách nhiệm thúc đẩy sự nghiệp phát triển, Liên hiệp quốc đã và đang hướng toàn bộ nỗ lực của mình cho cuộc đấu tranh chống buôn bán và sử dụng chất ma túy. Năm 1991 công trình kiểm soát ma túy quốc tế của Liên hiệp quốc đã được thiết lập nhằm phối hợp toàn bộ các hoạt động kiểm soát các chất ma túy của Liên hiệp quốc, hỗ trợ cho việc áp dụng các biện pháp thích hợp và đảm bảo sự lãnh đạo có hiệu quả của công tác kiểm soát ma túy quốc tế.
Chương trình này đã trở thành bước ngoặc mới trong thập kỷ chống ma túy 1991-2000 của Liên hiệp quốc [1]. 8 Ngày 26/6/1996 nhân ngày quốc tế phòng chống ma túy, Tổng thư ký Liên hiệp quốc Boutros Gha-Li đã ra thông điệp với nội dung: Ảnh hưởng kinh tế xã hội của việc buôn bán và lạm dụng ma túy vô cùng to lớn. Nhân ngày quốc tế phòng, chống ma túy chúng ta hãy cùng nhau nhìn nhận hiểm họa ma túy trên toàn cầu và điểm lại những tổn hại về kinh tế xã hội mà nó gây ra. Việc lạm dụng ma túy phổ biến nhất ở lứa tuổi 18-35, quãng thời gian đẹp nhất của đời người đang hăng hái lao động và lập nghiệp, xây đắp hạnh phúc gia đình, đó là lý do sức khỏe và hành vi liên quan đến lạm dụng ma túy có ảnh hưởng sâu sắc tới cả đời sống gia đìn và năng suất lao động.
Giáo dục là biện pháp chủ yếu để cộng đồng chống lại sự lan truyền của căn bệnh này. Vì thế ưu tiên hàng đầu trên thế giới hiện nay là phải ủng hộ các hoạt động giáo dục phòng, chống ma túy nhằm bảo vệ trẻ em và lứa tuổi thanh, thiếu niên. Lạm dụng ma túy và luôn lậu ma túy là vấn đề toàn cầu, tất cả chúng ta hãy cùng hội nhập vào khối đoàn kết đấu tranh chống lại kẻ thù chung là ma túy và dành cho tuổi thanh xuân một sự lựa chọn tốt đẹp [25]. Những điều đó chứng tỏ vấn đề phòng, chống tệ nạn buôn bán và sử dụng trái phép các chất ma túy được thế giới coi là nhiệm vụ có tầm quan trọng và cấp bách, nó đã trở thành vấn đề toàn cầu vì nạn ma túy đang trở thành hiểm họa ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của toàn nhân loại.
Một trong các giải pháp phòng chống ma túy mang tính căn bản chính là giáo dục cộng đồng và huy động cộng đồng tham gia vào công cuộc này. Do vậy,trên thế giới có nhiều nghiên cứu về việc giáo dục phòng chống ma túy dựa vào cộng đồng: - Các nghiên cứu của viện nghiên cứu quốc gia Hoa kỳ về ngăn chặn ma túy dựa vào cộng đồng [46]. - Chương trình ngăn ngừa dựa vào cộng đồng trong cuộc chiến với ma túy: những phát hiện từ “ cuộc chiến ngược”. - Hệ tiêu chuẩn phòng chống ma túy của Canada tập trung vào: 9 + Hiệu quả khi các chủ thể của cộng đồng cùng tham gia: gia đình, nhà trường, tổ chức thanh niên + Kết nối các sáng kiến của nhà trường và cộng đồng.
+ Huy động các chuyên gia từ nhiều lĩnh vực. Trong đó đề xuất các bảng kiểm kê hành động của các chủ thể, đề xuất tiêu chí tự đánh giá của các chủ thể. Như vậy, hướng nghiên cứu giáo dục, phòng ngừa ma túy dựa vào cộng đồng đã được triển khai nghiên cứu trên thế giới. Các kết quả khẳng định: muốn các chương trình phòng ngừa,ngăn chặn có hiệu quả cần giáo dục dựa vào cộng đồng.
Ở Việt Nam Cũng như các nước khác trên thế giới, ở nước ta, giáo dục phòng chống ma túy đã được quan tâm triển khai cả trên thực tiễn, cả trong lĩnh vực nghiên cứu. Các nghiên cứu được tiến hành theo các hướng sau: - Nghiên cứu về thực trạng sử dụng ma túy và các vấn đề liên quan như “ Nghiên cứu nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội ma túy của trẻ vị thành niên” tác giả Nguyễn Xuân Yêm - 2009. - Nhận thức của thanh thiếu niên về ma túy và ảnh hưởng của ma túy. Có thể điểm 1 số đề tài như: “Nhận thức của sinh viên đại học sư phạm – Đại học Thái Nguyên về ma túy” của tác giả Nguyễn Mai Phương; Tiêu Minh Hường : “ Thực trạng thái độ đối với ma túy của sinh viên trường Đại học lao động thương binh và xã hội”; - Giáo dục phòng chống ma túy trong nhà trường.
Các nghiên cứu này tập trung khảo sát thực trạng giáo dục phòng chống ma túy trong nhà trường ở các khía cạnh: nội dung giáo dục, hình thức giáo dục, hiệu quả giáo dục, từ đó đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động này. Có thể kế đến các đề tài: 10 “ Giáo dục phòng chống ma túy trong các nhà trưởng tỉnh Nghệ An” của tác giả Nguyễn Thị Nga; “ Giáo dục kỹ năng phòng chống ma túy cho học sinh, sinh viên” của Trần Thị Sáu (Đại học Quảng Bình). Như vậy, đã có nhiều nghiên cứu về ma túy và giáo dục ma túy cho thanh niên nhưng những nghiên cứu về giáo dục phòng chống ma túy dựa vào cộng đồng còn chưa được triển khai một cách khoa học, trong khi tiếp cận cộng đồng trong phòng chống ma túy là hướng nghiên cứu được coi trọng. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1.
Giáo dục Trong cuốn Giáo dục học (tập 1) của Trần Thị Tuyết Oanh (chủ biên) cho rằng: Giáo dục là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục trong các cơ quan giáo dục nhằm hình thành nhân cách cho họ. Tác giả Nguyễn Lân trong từ điển tiếng Việt xem: Giáo dục là một quá trình có ý thức có mục đích, có kế hoạch nhằm truyền cho lớp mới những kinh nghiệm đấu tranh và sản xuất, những tri thức về tự nhiên, về xã hội, về tư duy, để họ có thể có đầy đủ khả năng tham gia vào đời sống xã hội.