Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về hoạt động xã hội hóa giáo dục trong bối cảnh hiện nay Ở bất cứ thời đại nào, giáo dục đều có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Nền kinh tế tri thức, sự phát triển của thông tin, khoa học, công nghệ.
đòi hỏi nâng cao mặt bằng dân trí ngang tầm thời đại. Do vậy, cần huy động nguồn nhân lực, làm phong phú nguồn trí tuệ vì những mục tiêu kinh tế và phát triển xã hội. Tại nhiều nước cải cách giáo dục đã được triển khai và thực hiện một cách toàn diện nhằm tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao. Xã hội hóa giáo dục (XHHGD) là khuynh hướng cải cách giáo dục đã có từ đầu thế kỷ XX của những nước phát triển như Anh, Mỹ, Úc, Singapore…Vì vậy, nghiên cứu vấn đề xã hội hóa giáo dục đã có một số công trình như: Tác giả Walberg, H.J và cộng sự trong tác phẩm “Nhà trường dựa vào gia đình và cho kết quả” đã chỉ ra các hiệu ứng tích cực của HS khi có sự hỗ trợ của cha mẹ học sinh (CMHS) vào hoạt động học tập của con mình.
CMHS trong 41 lớp học ở Chicago đồng ý hợp tác với các GV trong việc hỗ trợ hoạt động học tập của con em họ. Kết quả cho thấy HS nào cha mẹ tham gia nhiều vào quá trình học tập của con thì thành tích học tập của con họ sẽ tăng lên so với các cha mẹ không tham gia [37]. Tác giả Cotton Kathleen với tác phẩm “Mối quan hệ trong nhà trường là những mối quan tâm lớn nhất” đã đưa ra những minh chứng về sự tham gia của CMHS bằng nhiều hình thức khác nhau chẳng hạn như cha mẹ có thể hỗ trợ việc học của con mình bằng cách tham gia các môn học và đáp ứng các nghĩa vụ học tập, hoặc giúp đỡ con cái của họ, theo dõi bài tập về nhà, dạy kèm con ở nhà, tạo điều kiện tốt nhất để con có không gian và thời gian học tập [36]. 6 Tác giả Berger trong nghiên cứu “Cha mẹ là các đối tác trong giáo dục: Gia đình và nhà trường cùng nhau tham gia” cho rằng có rất nhiều bằng chứng cho thấy sự quan tâm và hỗ trợ của cha mẹ học sinh là yếu tố chính trong việc thành công hay thất bại của HS.
Kết quả học tập cũng như thành tích học tập của HS sẽ tăng cao khi có sự tham gia của cha mẹ học sinh cùng với nhà trường [20] Tác giả Marie DeLuci với công trình “Nghiên cứu điển hình về sự tham gia của xã hội vào các trường TH & THCS ở ba trường của Ethiopia” đã khẳng định cộng đồng đóng vai trò rất quan trọng khi tham gia các hoạt động phát triển nhà trường. Tác giả đã chỉ ra rằng để huy động được sự tham gia của cha mẹ học sinh và cộng đồng cần có một tổ chức hay một uỷ ban nào đó đại diện cho cộng đồng hay cha mẹ học sinh để cải tiến nhà trường, đặc biệt rất cần sự nỗ lực phối hợp giữa Nhà nước – cha mẹ học sinh và các tổ chức phi chính phủ trong việc cùng quan tâm đến nhà trường cũng như con em họ [29]. Ở Việt Nam, nghiên cứu về xã hội hóa giáo dục đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu. Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như: Tác phẩm “Xã hội hóa công tác giáo dục” của tác giả Phạm Minh Hạc.
Đây chính là tài liệu đầu tiên bàn về vấn đề XHHGD ở nước ta, tài liệu này làm rõ vai trò của các lực lượng xã hội trong hoạt động XXHGD, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục ở Việt Nam [10]. Tác giả Đặng Quốc Bảo nhận định: “XHHGD phản ánh bản chất luận đề: Giáo dục cho tất cả mọi người, tất cả cho sự nghiệp giáo dục”. Vì vậy, việc huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước không phải là một ý tưởng mới lạ. Tác giả Trần Quang Nhiếp (2009) với bài viết “Suy nghĩ về XHHGD hiện nay” đã khẳng định XHH là xu thế khách quan của đời sống xã hội.
XHHGD chi phối tất cả các hoạt động giáo dục dưới nhiều hình thức. Tác giả đã lý giải vì sao phải XHHGD, quá trình XHHGD ở nước ta hiện nay, 7 XHHGD trong hệ thống các cơ sở giáo dục và XHHGD trong phương thức hoạt động giáo dục. Tác giả Lê Ngọc Hùng (2015) trong cuốn sách “Xã hội hóa giáo dục” đã làm rõ một số vấn đề như: Vai trò của XHHGD; Vấn đề phân hóa xã hội và bình đẳng xã hội trong giáo dục; Mối quan hệ giữa giáo dục với kinh tế, pháp luật, văn hóa, giáo dục và XHH [12]. Một số công trình nghiên cứu về XHHGD ở từng cấp học như: Tác giả Đặng Thị Minh (2005) trong bài viết “Tăng cường vai trò của Nhà nước đối với XHH GD mầm non và phổ thông ngoài công lập” [16]; Tác giả Nguyễn Thị Tố Nga (2014) trong bài viết “Biện pháp quản lý XHHGD tiểu học ở quận Bắc Từ Liên, thành phố Hà Nội” [17], Tác giả Phạm Thị Huyền (2008) với công trình nghiên cứu “Những tác nhân thúc đẩy XHHGD ở các trường THCS quận Kiến An, Hải Phòng” [15]; Tác giả Tạ Thị Bích Ngọc (2021) với công trình nghiên cứu “XHHGD Đại học ở Việt Nam hiện nay” [18].
Nhìn chung các bài viết, công trình nghiên cứu đều chỉ rõ: XXHGD góp phần quan trọng trong nâng cao chất lượng GD ở các cơ sở GD, do vậy quản lý tốt và hiệu quả hoạt động XXHGD đòi hỏi người Hiệu trưởng phải có năng lực quản lý tốt. Ngoài ra, cần tăng cường mối liên hệ giữa Nhà trường – gia đình – xã hội, nhằm nâng cao nhận thức của GV, lực lượng xã hội về vai trò của XHHGD trong bối cảnh hiện nay. Nghiên cứu về quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục ở các trường trung học cơ sở trong bối cảnh hiện nay Nghiên cứu quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục ở các trường trung học cơ sở trong bối cảnh hiện nay đã có 1 số công trình nghiên cứu, cụ thể: Tác giả Nguyễn Văn Bội (2015) với công trình nghiên cứu “Quản lý xã hội hóa cơ sở vật chất – thiết bị dạy học các trường THCS ở huyện Hải Hậu – tỉnh Nam Định đáp ứng mục tiêu xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia” khẳng định, thế giới bước sang nền kinh tế tri thức, sự bùng nổ như vũ bão về công nghệ thông tin và truyền thông làm cho giáo dục có thêm những vai trò mới. 8 GD&ĐT không những là động lực cho sự phát triển nền kinh tế tri thức mà còn là hạ tầng xã hội cho việc hình thành xã hội tri thức.
Do đó quản lý XHH cơ sở vật chất và thiết bị dạy học nhằm góp phần thực hiện mục tiêu đạt chuẩn quốc gia ở các trường THCS ở huyện Hải Hậu [5]. Tác giả Phan Hồng Thắm (2019) với bài viết “Quản lí công tác XHHGD ở các trường THCS huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang” đã khẳng định XHHGD là một phương thức để thực hiện tốt mục tiêu GD. Để thực hiện tôt công tác XXHGD cần có sự tham gia của nhiều lực lượng như: Lãnh đạo Đảng, chính quyền các cấp, gia đình, CMHS, Ban đại diện CMHS, các cơ quan, ban ngành, các cơ sở sản xuất kinh doanh, các tổ chức quốc tế, cá nhân, các mạnh thường quân. Bài viết đã đánh giá các nội dung quản lý công tác XHHGD ở các trường THCS huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang bao gồm: Nhận thức của các lực lượng GD trong và ngoài nhà trường hoạt động XHH; Đánh giá công tác lập kế hoạch; Tổ chức; Chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch XHHGD.
Từ kết quả thực tiễn, tác giả đã đề xuất một số biện pháp quản lý như: Nâng cao nhận thức và năng lực cho các lực lượng tham gia công tác XHHGD; Đổi mới xây dựng kế hoạch công tác XHHGD; Tăng cường chỉ đạo thực hiện XHHGD; Tăng cường kiểm tra, đánh giá công tác XHHGD [28]. Tác giả Nguyễn Thị Mộng Thùy (2020) với công trình: “Quản lý hoạt động XHHGD tại các trường THCS huyện Tiểu Cần tỉnh Trà Vinh trong bối cảnh đổi mới giáo dục” đã nghiên cứu hoạt động xã hội hóa giáo dục ở các trường trung học cơ sở huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh trong bối cảnh đổi mới giáo dục, từ kết quả thu được qua khảo sát thực trạng, tác giả đã đề xuất 1 số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xã hội hóa giáo dục ở các trường trung học cơ sở huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh [31]. Như vậy, vấn đề xã hội hóa giáo dục và quản lý xã hội hóa giáo dục được các học giả trong nước và thế giới quan tâm nghiên cứu. Thực tế, xã hội hóa giáo dục đã và đang trở thành một trào lưu ở hầu hết các nước trên thế 9 giới, trong đó có Việt Nam.
Trong phạm vi hiểu biết của mình tác giả nhận thấy mặc dù đã có 1 số công trình nào nghiên cứu vấn đề này, tuy nhiên việc nghiên cứu quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục ở các trường trung học cơ sở thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa trong bối cảnh hiện nay thì chưa có ai nghiên cứu. Vì vậy, nghiên cứu đề tài “Quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục ở các trường trung học cơ sở thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa trong bối cảnh hiện nay” vừa có ý nghĩa khoa học và vừa có ý nghĩa thực tiễn. Các khái niệm cơ bản 1. Quản lý Quản lý là một hiện tượng xã hội, xuất hiện từ lâu trong lịch sử loài người.
Khái niệm về quản lý được rất nhiều các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau tìm hiểu. Tiêu biểu như: Tác giả Nguyễn Ngọc Quang (2001) cho rằng: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường” [24]. Tác giả Vũ Ngọc Hải – Trần Khánh Đức (2003) cho rằng: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra” [11].