Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu ở trong nước Là một chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta nên trong khoảng hai thập kỷ gần đây, vấn đề giáo dục pháp luật (GDPL) đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều cơ quan, tổ chức và nhà khoa học. Hiện tại đã có một số đề tài nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau và nhiều sách chuyên khảo, bài báo khoa học, luận văn, luận án về GDPL, trong đó bao gồm một số công trình nghiên cứu đề cập đến GDPL trong Quân đội, đã được thực hiện và công bố ở nước ta. Căn cứ vào nội dung, có thể chia các công trình nghiên cứu về GDPL đã công bố ở nước ta thành các nhóm vấn đề sau: 1) Nhóm công trình đề cập đến các vấn đề lý luận của GDPL; 2) Nhóm công trình đề cập đến GDPL cho những đối tượng cụ thể hoặc ở một khu vực, địa bàn nhất định; 3) Nhóm công trình đề cập đến GDPL trong Quân đội nhân dân Việt Nam (QĐNDVN).
Nhóm công trình đề cập đến các vấn đề lý luận của giáo dục pháp luật Những công trình đề cập đến các vấn đề lý luận của GDPL có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì chúng tạo cơ sở về mặt nhận thức, phương pháp luận cho việc đi sâu nghiên cứu các vấn đề cụ thể của GDPL. Ở Việt Nam, thuộc về nhóm này, có thể kể một số công trình tiêu biểu như sau: - Cơ sở khoa học của việc xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật (1995) của PGS. TS Đào Trí Úc [143]. Đây là cuốn sách chuyên khảo về một công trình khoa học cấp nhà nước của nhiều nhà khoa học do PGS.
TS Đào Trí Úc là chủ nhiệm đề tài. Trong đề tài này, các tác giả đã đi sâu vào phân tích, đánh giá 7 nội dung cơ bản là: Các thuộc tính và giá trị của pháp luật; Đặc điểm của YTPL trong hệ thống pháp luật Việt Nam; Thực trạng hiểu biết pháp luật và thái độ đối với pháp luật của nhân dân; Các hành vi vi phạm pháp luật; Các hành vi tuân theo pháp luật; Chính sách pháp luật và hệ thống pháp luật. Trong đó, tham luận của tác giả Trần Thị Tuyết: “Tác động của chiến tranh đến sự hình thành ý thức và lối sống theo 9 pháp luật” nêu ra một nhận định đáng quan tâm đó là: chiến tranh có những quy luật riêng của nó, do vậy đã góp phần làm giảm thói tự do, tùy tiện của con người, nhưng cũng để lại những di chứng nặng nề và lâu dài về mặt tâm lý xã hội, đó là tính độc đoán, chuyên quyền [143, tr. - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong công cuộc đổi mới, Báo cáo tổng quan Đề tài khoa học cấp Bộ năm 1998, mã số 92-98-223, Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp) [142].
Đề tài này đã khái quát những vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn về GDPL ở nước ta, trong đó các vấn đề lý luận bao gồm khái niệm, đặc điểm, tính chất, các hình thức của GDPL. Trên cơ sở những vấn đề lý luận đó nhóm tác giả đã xác định một số giải pháp cụ thể để thúc đẩy GDPL ở nước ta trong công cuộc đổi mới. - Bàn về giáo dục pháp luật (1995), của Trần Ngọc Đường và Dương Thanh Mai [50]. Đây là cuốn sách chuyên khảo công phu về lĩnh vực này ở Việt Nam.
Trong công trình này, nghiên cứu sinh (NCS) hoàn toàn đồng ý với quan điểm của các tác giả khi cho rằng GDPL là một dạng giáo dục độc lập, có chủ thể, đối tượng, nội dung, phương pháp, hình thức đặc thù so với giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức: “Bản chất của giáo dục pháp luật là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định của chủ thể giáo dục tác động lên đối tượng giáo dục nhằm mục đích hình thành ở họ tri thức pháp lý, tình cảm và hành vi phù hợp với các đòi hỏi của hệ thống pháp luật hiện hành” [52, tr. Tuy nhiên trong công trình này, các tác giả vẫn chưa đề cập đến thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động GDPL ở nước ta. - Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2004 [134]. Trong cuốn giáo trình này có một mục thuộc chương XVIII, Ý thức pháp luật (YTPL), đề cập đến vấn đề bồi dưỡng và giáo dục nâng cáo YTPL XHCN, trong đó xác định: GDPL là sự tác động một cách có hệ thống, có mục đích và thường xuyên tới nhận thức của con người nhằm trang bị cho mỗi người một trình độ kiến thức pháp lý nhất định để từ đó có ý thức đúng đắn về pháp luật, tôn trọng và tự giác xử sự theo yêu cầu của pháp luật [134, tr.
418-422] - Một số tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (2011) của Đặng Vũ Huân [64]. Trong bài viết này, tác giả cho rằng hiệu quả của 10 công tác GDPL phụ thuộc vào nhiều yếu tố, vì vậy việc đánh giá cần dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau. Một trong các tiêu chí mà tác giả nhấn mạnh là tính chủ động, tích cực của công dân tham gia vào các hoạt động như đóng góp ý kiến xây dựng pháp luật, quản lý nhà nước, đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật, phổ biến tuyên truyền pháp luật. Tác giả kết luận: “Thái độ chấp hành hay không chấp hành của người dân đối với pháp luật phụ thuộc rất lớn vào sự am hiểu pháp luật và đây chính là kết quả của GDPL [64, tr.18] - Giáo dục pháp luật hay giáo dục ý thức pháp luật? (2012) của Ngọ Văn Nhân [97].
Trong bài báo này, tác giả thảo luận về thực trạng và tính chất khoa học, hợp lý của việc sử dụng hai khái niệm: “giáo dục pháp luật” và “giáo dục ý thức pháp luật”. NCS hoàn toàn nhất trí với quan điểm của tác giả, hai khái niệm này có liên quan nhưng không đồng nhất về nội hàm, vì vậy, việc sử dụng hoán đổi hoặc đi liền với nhau có thể gây nhầm lẫn. Sau khi phân tích so sánh, tác giả cho rằng cần thống nhất sử dụng “giáo dục pháp luật” như là khái niệm chuẩn, không nên sử dụng khái niệm “giáo dục ý thức pháp luật” vì không rõ về nội hàm; trong trường hợp muốn nhấn mạnh ý thức pháp luật thì có thể dùng cụm từ “giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật” cho một đối tượng hoặc nhóm đối tượng cụ thể. Ngoài các công trình tiêu biểu kể trên, còn một số công trình nghiên cứu khác ở nước ta cũng đề cập đến những vấn đề lý luận của GDPL, như: Một số vấn đề về phổ biến, giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay, của Nguyễn Duy Lãm, 1997 [72]; Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật ở nước ta - thực trạng và giải pháp, của Hồ Quốc Dũng, 1997 [34]; Xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong tình hình mới, của Hồ Việt Tiệp, 2000 [122]; Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục pháp luật của Trần Thị Sáu, 2008 [102]; Công tác nghiên cứu lý luận về giáo dục pháp luật trong thời kỳ đổi mới của Lê Văn Hòe, 2008 [57]; Những vấn đề cần quan tâm trong công tác GDPL hiện nay của Phạm Thanh Tuyền, 2009 [141]; Giáo dục pháp luật, giáo dục đạo đức và kỹ năng sống của Lê Thị Phương Nga, 2010 [89]; Hoàn thiện hệ thống giáo dục pháp luật ở Việt Nam nhằm thi hành Hiến chương ASEAN, của Trần Ngọc Dũng, 2010 [33]… Các công trình nghiên cứu này đã làm rõ hơn các vấn đề lý luận về GDPL, đặc biệt là về hình thức, mục tiêu, nội dung, phương pháp GDPL.
11 Mặc dù không trực tiếp đề cập đến các vấn đề lý luận về GDPL trong QĐNDVN, song những công trình nghiên cứu nêu trên vẫn là một nguồn tham khảo hữu ích cho NCS, bởi vì lý luận về GDPL trong quân đội cũng phải dựa trên lý luận chung về GDPL. Nhóm công trình đề cập đến giáo dục pháp luật cho các đối tượng cụ thể hoặc ở một khu vực, địa bàn nhất định. Bên cạnh những công trình nghiên cứu tập trung vào các vấn đề lý luận của GDPL như được giới thiệu ở phần trên, còn có nhiều công trình tập trung phân tích thực trạng và những vấn đề đặt ra trong tổ chức thực hiện GDPL cho các đối tượng cụ thể hoặc ở một khu vực, địa bàn nhất định, trong đó tiêu biểu có thể kể như sau: - Giáo dục pháp luật qua hoạt động tư pháp (1996) của Dương Thị Thanh Mai [78]. Luận án đã phân tích tương đối toàn diện các vấn đề lý luận, pháp lý, thực tiễn của GDPL trong lĩnh vực đặc thù là hoạt động tư pháp.
Tác giả kết hợp sử dụng cách tiếp cận của giáo dục học và luật học để luận giải về khái niệm, đặc điểm, các hình thức và các yếu tố tác động đến giáo dục pháp luật trong hoạt động tư pháp. Theo tác giả, đặc thù của GDPL thông qua hoạt động tư pháp chính là hoạt động giáo dục được thực hiện dựa trên thực tiễn hoạt động tranh tụng tại phiên tòa, với sự tham gia của Kiểm sát viên giữ quyền công tố, Thẩm phán và Luật sư. Tác giả cũng cho rằng, bản thân quá trình hoạt động tư pháp đã mang tính chất GDPL, song vấn đề đặt ra là cần phải có những giải pháp cụ thể để phát huy hiệu quả giáo dục với các đối tượng liên quan, trong đó không chỉ bao gồm những người tham gia tố tụng mà cả công chúng đang theo dõi phiên tòa. - Đổi mới giáo dục pháp luật trong hệ thống các trường chính trị ở nước ta hiện nay (1999) của Khoa Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh [70].
Đề tài khoa học này phân tích vai trò, nhiệm vụ của các trường chính trị cấp tỉnh trong việc GDPL cho đội ngũ cán bộ, công chức địa phương. Theo các tác giả, các trường chính trị tỉnh là một kênh quan trọng thực hiện công tác GDPL ở nước ta, thông qua các chương trình đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho cán bộ cấp xã, phường, thị trấn. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng GDPL trong hệ thống các trường chính trị tỉnh sẽ góp phần vào việc nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật cho cán bộ cấp cơ sở ở nước ta.