đặt vấn đề giáo dục pháp luật mà chỉ cần phổ biến pháp luật để mọi người tự tìm hiểu và có cách xử sự cho đúng. Xuất phát từ nhận thức bản thân pháp luật của Nhà nước đã có vai trò giáo dục, mỗi quan niệm trên mới chỉ thấy GDPL ở một khía cạnh nào đó, chưa thấy hết vai trò giáo dục chung của pháp luật đối với nhận thức và hành vi xã hội của cá nhân. Theo chúng tôi, khái niệm giáo dục pháp luật trước tiên phải được hiểu theo nghĩa chung nhất đó là vấn đề giáo dục và tiếp đó là vấn đề pháp luật. Quá trình hình thành ý thức con người là quá trình ảnh hưởng thống nhất của các điều kiện khách quan và các nhân tố chủ quan, trong đó các điều kiện khách quan đóng vai trò là những nhân tố ảnh hưởng, các nhân tố chủ quan đóng vai 12 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ trò là nhân tố tác động.
GDPL là sự tác động của nhân tố chủ quan, do các chủ thể có năng lực làm công tác giáo dục tiến hành. Đó là các hoạt động có định hướng, có tổ chức thông qua nội dung, chương trình, phương pháp cụ thể của nhiều chủ thể (nhà trường, các tổ chức Đảng, chính quyền, cơ quan, đoàn thể…) nhằm hình thành ở khách thể những yếu tố chủ quan, trước hết là tri thức hiểu biết, tư tưởng, thái độ, tình cảm về pháp luật. Đó chính là thiên chức của giáo dục tiến bộ. GDPL là hình thức cụ thể, “là cái riêng, cái đặc thù”, và cũng là “cái chung, cái phổ biến” trong quan hệ với giáo dục, thể hiện là: - GDPL là hình thức nhằm hình thành tri thức, tình cảm pháp luật ở mỗi cá nhân, hình thành thói quen xử sự, nếp sống phù hợp với quy định của pháp luật, từ đó tự giác tuân thủ pháp luật, có thái độ, hành vi đúng đắn, tích cực trong việc sử dụng pháp luật.
Như vậy, mục đích của GDPL là hình thành “môi trường chủ quan” thuận lợi, phù hợp để từ đó chủ thể định hướng hành vi xã hội của mình theo những chuẩn mực mà pháp luật quy định, góp phần tích cực tăng cường hiệu lực, hiệu quả của pháp luật. Mục đích này mang cả ý nghĩa lý luận và thực tiễn. Mặt khác GDPL có nội dung riêng, đó là sự tác động định hướng để chuyển tải nội dung pháp luật (nguyên tắc, giá trị, quy phạm pháp luật). Những nội dung này phản ánh trong nó về các hiện tượng nhà nước và các hiện tượng xã hội như: quan hệ xã hội, trách nhiệm xã hội được thể hiện thông qua hình thức pháp lý.
Chẳng hạn, khi giáo dục về trách nhiệm của con người trong xã hội thì đạo đức đề cập bằng phương diện đạo lý, còn pháp luật thì đề cập bằng nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý với những dạng hành vi bắt buộc. - Xét trên các vấn đề chủ thể, khách thể, đối tượng, hình thức và phương pháp giáo dục thì GDPL cũng có những nét riêng. Chủ thể GDPL trước hết phải có những tri thức cần thiết về pháp luật và đời sống pháp luật, phải hiểu được nhân thân, hoàn cảnh, môi trường sống của đối tượng, phải biết cách 13 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ truyền tải kiến thức pháp luật đến đối tượng, phải là hình mẫu trong việc tuân theo pháp luật. Đặc biệt, chủ thể giáo dục phải có khả năng minh họa những vấn đề xảy ra trong đời sống mà có ý nghĩa pháp lý dưới những thuật ngữ, những nguyên tắc, những quy định pháp luật cụ thể.
Nếu thiếu khả năng này, ở chủ thể giáo dục mất đi ý nghĩa thiết thực của nó. - Xét về vị trí, vai trò trong hệ thống giáo dục thì GDPL có vai trò chi phối rất lớn đối với các dạng giáo dục chính trị-xã hội khác. Trong điều kiện xã hội hiện nay nó là “tiêu chí” đánh giá trong nội dung một số môn học trừu tượng như: Giáo dục thẩm mỹ, giáo dục đạo đức, giáo dục tâm lý… Chính vì vậy “sức mạnh”, “khả năng” tác động của GDPL có ưu thế hơn so với ý thức thái độ của đối tượng giáo dục. Điều này có ý nghĩa đối với đối tượng GDPL ở mọi lứa tuổi.
Đối với lứa tuổi chưa thành niên (tuổi học sinh THPT) và tuổi trưởng thành, nếu có nhận thức đầy đủ về pháp luật như bản chất, giá trị, thuộc tính của nó thì sự xuất hiện khả năng tự kìm chế hành vi (có hại, sai trái) sẽ lớn hơn. Từ những phân tích trên, có thể rút ra kết luận tương đối đầy đủ nhất về GDPL như sau: GDPL là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ đích của chủ thể giáo dục thông qua các hình thức, phương pháp khác nhau tác động lên đối tượng giáo dục một cách hệ thống nhằm hình thành ở họ tri thức pháp lý, tình cảm và hành vi phù hợp với pháp luật hiện hành, xây dựng lối sống theo pháp luật. Với khái niệm trên, GDPL không đơn thuần là sự tác động đơn giản nhất thời mà là một loại hoạt động, một hệ thống các hoạt động có tổ chức với cấu trúc đồng bộ của nó, bao gồm chủ thể, khách thể, đối tượng, nguyên tắc, mục đích xác định. Mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức GDPL cho học sinh THPT * Mục tiêu GDPL: - Về kiến thức: Trang bị cho học sinh THPT tương đối có hệ thống những tri thức cơ bản và cần thiết, phù hợp với độ tuổi về Nhà nước, về pháp luật, về nghĩa vụ, quyền 14 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ con người, quyền công dân.
Trên cơ sở đó giúp học sinh hình thành niềm tin, tình cảm đúng đắn về pháp luật; định hướng cho các em sống và làm việc theo pháp luật trong tương lai. Để giúp cho học sinh có tri thức, hiểu biết về pháp luật, phải chú trọng đổi mới nội dung, hình thức, đặc biệt là phương pháp dạy học các môn học có liên quan, nhất là môn Giáo dục công dân. Bên cạnh đó cần trang bị cho các em hệ thống những tri thức, giá trị đạo đức, giá trị làm người. - Về thái độ: Trên cơ sở trang bị tri thức, hiểu biết về pháp luật để xây dựng cho học sinh ý thức tôn trọng pháp luật, có ý thức tuân thủ pháp luật và đấu tranh với những biểu hiện vi phạm pháp luật trong xã hội.
- Về kỹ năng thói quen: Kỹ năng biểu hiện sống và làm việc theo pháp luật là mục tiêu cuối cùng và cơ bản nhất của GDPL, đặc biệt là hình thành các thói quen tuân thủ pháp luật như: Thói quen tuân thủ và tôn trọng pháp luật, thói quen điều chỉnh thái độ và hành vi trên cơ sở pháp luật, thói quen thực hiện quyền và nghĩa vụ tuân thủ pháp luật… * Nội dung GDPL cho học sinh THPT: - Thực hiện chương trình GDPL theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong đó tập trung vào pháp luật của Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Hiến pháp sửa đổi năm 2013, Luật Dân sự, Luật Lao động, Luật Hành chính và Pháp lệnh xử phạt hành chính. - Pháp lệnh về Khiếu nại Tố cáo của công dân. - Vấn đề quyền, nghĩa vụ của công dân quy định trong Hiến pháp. - Giáo dục ý thức pháp luật, đây là nội dung rất cơ bản.
* Phương pháp GDPL cho học sinh THPT: Đây là hệ thống những cách thức tác động của nhà giáo dục tới học sinh đề hình thành ở các em những tri thức, niềm tin, tình cảm, thái độ và thói quen ứng xử, hành vi theo pháp luật. 15 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ Thông thường người ta sử dụng các phương pháp sau: - Phương pháp thuyết phục Đây là nhóm phương pháp tác động vào nhận thức, tình cảm của học sinh để hình thành cho các em ý thức, thái độ tích cực với cuộc sống qua khuyên giải, tranh luận, nêu gương. - Nhóm phương pháp tổ chức hoạt động Đưa học sinh vào các hoạt động thực tiễn, thông qua việc phân tích, xử lý tình huống cụ thể để tập dượt, hình thành ở học sinh thái độ, hành vi và thói quen tuân thủ pháp luật. - Nhóm phương pháp kích thích hành vi Là nhóm phương pháp tác động vào động cơ, tình cảm của học sinh nhằm tạo nên tính tích cực hoạt động và khả năng điều chỉnh hành vi, khắc phục những hạn chế, sai lệch trong hành vi pháp luật.
Nhóm này gồm khen thưởng, trách phạt, thi đua. * Hình thức GDPL cho học sinh THPT: Thực tiễn cho thấy tồn tại hai hình thức cơ bản sau: - GDPL cho học sinh thông qua các môn học Những nội dung GDPL cho học sinh THPT do Bộ GD&ĐT quy định về các quyền và nghĩa vụ công dân và nâng cao nhận thức của học sinh về trách nhiệm của Nhà nước trong việc đảm bảo thực hiện các quyền của công dân thông qua môn Giáo dục công dân và các môn học có liên quan. - GDPL thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp Các hoạt động này nhằm hỗ trợ, bổ sung cho hình thức chính thức nhằm củng cố, mở rộng và khơi sâu thêm sự hiểu biết của học sinh về pháp luật, quyền và nghĩa vụ công dân, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật và hình thành thói quen tuân thủ pháp luật. Trong hình thức này, đối với học sinh THPT cần chú trọng hoạt động hướng nghiệp để thông qua đó giáo dục về nhận thức và ý thức pháp luật.
16 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www. Khái niệm quản lý, quản lý giáo dục pháp luật 1. Quản lý Khái niệm quản lý đã được các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu trình bày theo cách hiểu và diễn đạt của mình. Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường, trong đó, con người có thể đạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [8, tr.
Theo tác giả Aonapy (người Nhật): “Quản lý là một hệ thống xã hội, là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống mà chủ yếu là việc tác động vào con người nhằm hoàn thành các mục tiêu kinh tế-xã hội xác định” [8, tr.