Chương 1: Cơ sở lý luận của giáo dục pháp luật cho học viên các trƣờng Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam. Chương 2: Thực trạng giáo dục pháp luật cho học viên trong các trƣờng Sĩ quan Quân đội ở Việt Nam hiện nay. Chương 3: Quan điểm và một số kiến nghị, giải pháp nâng cao chất lƣợng giáo dục pháp luật cho học viên trong các trƣờng sỹ quan quân đội. 5 z Chƣơng I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC VIÊN CÁC TRƢỜNG SỸ QUAN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM 1.
Nhƣ̃ng vấ n đề lý luâ ̣n của giáo du ̣c pháp luâ ̣t cho ho ̣c viên các trƣờng sĩ quan quân đội 1. Khái luận chung về giáo dục pháp luật 1. Khái niệm về giáo dục pháp luật Trong sự phát triển lý luận về nhà nƣớc và pháp luật đã có nhiều quan niệm khác nhau về GDPL. Có một thời kỳ dài, cả trong tƣ duy lý luận và cả trong chỉ đạo thực tiễn, GDPL bị “hòa tan” vào giáo dục chính trị tƣ tƣởng; chỉ cần giáo dục chính trị, tƣ tƣởng tốt thì ngƣời dân cũng thực hiện pháp luật.
Việc phủ nhận tính độc lập tƣơng đối của GDPL đã không chỉ làm hạn chế lý luận về mặt GDPL mà trên thực tế đã là nguyên nhân chủ yếu của tình trạng không hiểu biết pháp luật của một bộ phận lớn cán bộ và các tầng lớp nhân dân, dẫn đến nhiều hành vi vi phạm pháp luật. Quan niệm có tính chất cực đoan hơn nữa là phủ nhận GDPL. Quan niệm này cho rằng pháp luật là các quy tắc, mệnh lệnh của Nhà nƣớc, buộc mọi ngƣời dân phải chấp hành vô điều kiện, dù muốn hay không, dù có lợi hay không có lợi. Vì thế, nếu có cái gọi là “GDPL” thì về thực chất chỉ là công bố và phổ biến pháp luật không bao hàm việc tuyên truyền, giải thích vận động; bản thân pháp luật sẽ tự thực hiện chức năng giáo dục của mình bằng chính các quy định về quyền và nghĩa vụ, về các chế tài đối với các chủ thể tham gia vào các quan hệ do nó điều chỉnh.
Cũng có quan niệm mặc dù thừa nhận tính độc lập tƣơng đối của GDPL song thiếu toàn diện, thậm chí lệch lạc, hoặc là đồng nhất GDPL với dạy và học pháp luật, hoặc là đồng nhất với việc tuyên truyền, phổ biến, giải thích 6 z pháp luật. Quan niệm này đã làm nghèo nàn các hình thức GDPL, nhất là việc phủ nhận các hình thức tuyên truyền, phổ biến pháp luật, coi nó nhƣ là một hoạt động có tính chất kỹ thuật, và chỉ là công việc của bộ máy tuyên truyền. Những quan niệm không đúng đắn hoặc phiến diện trên về GDPL ở mức độ ít hoặc nhiều đã hạ thấp vai trò của GDPL, hạn chế hiệu quả giáo dục, và do đó trực tiếp ảnh hƣởng đến hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật. Do vậy để có quan niệm đúng đắn về GDPL đòi hỏi trƣớc hết phải làm rõ những vấn đề lý luận về giáo dục nói chung , nhất là khái niệm về giáo dục.
Theo Từ điển tiếng Việt thì "giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tƣợng nào đó làm cho đối tƣợng ấy dần dần có đƣợc những phẩm chất năng lực nhƣ yêu cầu đặt ra" [34, tr. Pháp luật xã hội chủ nghĩa là hệ thống qui phạm pháp luật thể chế hóa đƣờng lối, chủ trƣơng của Đảng, thể hiện ý chí của nhân dân, đƣợc Nhà nƣớc ban hành và bảo đảm thực hiện trên cơ sở giáo dục, thuyết phục, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Để pháp luật điều chỉnh đƣợc các quan hệ xã hội theo đƣờng lối, chủ trƣơng của Đảng thì ngoài việc phải ban hành đƣợc một hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, chúng ta cũng phải không ngừng tăng cƣờng tuyên truyền, giáo dục để pháp luật đi vào cuộc sống. Tuyên truyền, GDPL chính là cầu nối để đƣa pháp luật vào đời sống nhân dân, làm cho nhân dân hiểu đƣợc nội dung, ý nghĩa, mục đích của những quy phạm pháp luật hiện hành, từ đó hình thành tình cảm, niềm tin và thói quen tự giác thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật.
GDPL có vị trí, vai trò rất quan trọng, là một khâu không thể thiếu trong quá trình tổ chức và thực hiện pháp luật. Vậy GDPL là gì ? Khái niệm GDPL thƣờng đƣợc hiểu ở hai cấp độ khác nhau: 7 z "Theo nghĩa rộng, GDPL là quá trình hình thành ý thức pháp luật và văn hóa pháp lý của các thành viên xã hội, quá trình đó chịu sự tác động của những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan, trong đó điều kiện khách quan (chế độ chính trị, điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội, môi trƣờng sống…) là nhân tố ảnh hƣởng, nó có thể tác động tự phát theo chiều tích cực hoặc tiêu cực, còn nhân tố chủ quan bao giờ cũng là sự tác động tự giác, tích cực, có ý thức, có chủ định theo chiều hƣớng xác định nhằm đạt đƣợc mục đích của chủ thể tác động. Theo nghĩa hẹp, GDPL là hoạt động có định hƣớng, có tổ chức, có chủ định của cơ quan, tổ chức và cá nhân (chủ thể giáo dục) tác động lên đối tƣợng giáo dục nhằm cung cấp tri thức pháp luật, bồi dƣỡng tình cảm pháp luật và thói quen tuân thủ pháp luật” [13,tr. Theo quan điểm của tác giả, khái niệm GDPL nên đƣợc hiểu theo nghĩa hẹp, bởi vì: Thứ nhất, hiểu GDPL nhƣ vậy phù hợp với khái niệm giáo dục thƣờng đƣợc sử dụng trong khoa học sƣ phạm: Giáo dục là quá trình tác động có định hƣớng của nhân tố chủ quan (con ngƣời) lên đối tƣợng giáo dục nhằm đạt đƣợc mục đích nhất định.
Theo Từ điển Tiếng Việt: "Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tƣợng nào đó làm cho đối tƣợng ấy dần dần có những phẩm chất và năng lực nhƣ yêu cầu đề ra" [34, tr. Thứ hai, hiểu GDPL nhƣ vậy để phân biệt với quá trình hình thành ý thức pháp luật. Quá trình hình thành ý thức pháp luật là quá trình chịu sự tác động của cả nhân tố khách quan và chủ quan, còn GDPL là sự tác động tự giác, có chủ định, có mục đích của chủ thể giáo dục lên đối tƣợng giáo dục (nhân tố chủ quan) nhằm hình thành ở họ những phẩm chất nhất định. Nhƣ vậy, GDPL có nội hàm hẹp hơn so với sự hình thành ý thức pháp luật và nó chỉ là một bộ phận của quá trình hình thành ý thức pháp luật.
8 z Thứ ba, hiểu GDPL nhƣ vậy là để phân biệt với khái niệm giáo dục nói chung. GDPL là hình thức giáo dục cụ thể, là cái riêng, cái đặc thù trong mối quan hệ với giáo dục nói chung, là cái chung, cái phổ biến. Vì vậy, GDPL có những nét đặc thù khác một cách tƣơng đối với các dạng giáo dục khác, cụ thể nhƣ: - GDPL có mục đích riêng của mình là nhằm cung cấp cho đối tƣợng giáo dục tri thức pháp luật, tình cảm pháp luật và thói quen xử sự hợp pháp, làm cho công dân tự giác chấp hành pháp luật, duy trì trật tự xã hội phù hợp với ý chí của nhà nƣớc và lợi ích của nhân dân. - GDPL có nội dung riêng, đó là sự chuyể n tải những tri thức của hai hiện tƣợng nhà nƣớc và pháp luật, trong đó những qui định của hệ thống pháp luật hiện hành của nhà nƣớc là nội dung cơ bản.
- Xét trên các yếu tố chủ thể, khách thể, đối tƣợng, hình thức, phƣơng pháp của GDPL cũng có những nét riêng, nhƣ xét về đối tƣợng GDPL là tất cả quần chúng nhân dân (mọi công dân), còn hình thức giáo dục khác sẽ chỉ là một đối tƣợng cụ thể nào đó. Từ những phân tích trên, có thể đƣa ra khái niệm GDPL nhƣ sau: Giáo dục pháp luật là hoạt động có chủ định, có định hướng, có tổ chức của cơ quan, tổ chức và cá nhân để cung cấp tri thức pháp luật, bồi dưỡng tình cảm cho đối tượng giáo dục nhằm hình thành ở họ ý thức pháp luật, niềm tin pháp luật, thói quen chấp hành và thực hiện pháp luật một cách tự giác, tích cực, chủ động. Vậy, GDPL có mục đích là hoạt động nhằm hình thành tri thức, tình cảm và thói quen xử sự phù hợp với quy định của pháp luật, tạo cho công dân tự giác tuân thủ thi hành pháp luật, có ý thức pháp luật cao, góp phần tăng cƣờng hiệu quả của pháp luật. Mục đích của GDPL là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất để phân biệt GDPL với các dạng hoạt động khác.
GDPL góp phần hình thành và nâng cao văn hóa pháp lý của từng cá nhân và toàn xã hội. Mặt 9 z khác GDPL nhằm hình thành, làm sâu sắc và từng bƣớc mở rộng hệ thống tri thức pháp luật (mục đích nhận thức); hình thành tình cảm và lòng tin với pháp luật (mục đích cảm xúc); hình thành động cơ, hành vi và thói quen xử sự hợp pháp, tích cực cho công dân (mục đích hành vi). GDPL có chủ thể, khách thể, đối tƣợng, hình thức và phƣơng pháp giáo dục với những đặc điểm mang tính khác biệt. Đối tƣợng GDPL có vai trò chính trong quá trình tác động qua lại giữa chủ thể giáo dục và đối tƣợng giáo dục.
So với các đối tƣợng giáo dục khác thì GDPL là quá trình tác động thƣờng xuyên, liên tục, lâu dài hơn chứ không phải là sự tác động một lần của chủ thể lên đối tƣợng giáo dục. GDPL với ý nghĩa là một dạng giáo dục đặc thù, có vị trí độc lập tƣơng đối, đƣợc hiểu là hoạt động cung cấp tri thức pháp luật, bồi dƣỡng tình cảm, thái độ đúng đắn với pháp luật một cách có định hƣớng, có tình cảm, có chủ định lên mỗi thành viên của xã hội, nhằm hình thành một cách bền vững ý thức pháp luật luật và những thói quen tích cực trong mọi hành vi xử thế của công dân trong đời sống xã hội. Mục đích của giáo dục pháp luật Mục đích của GDPL là phạm trù cơ bản của lý luận về GDPL, có giá trị quan trọng trong chỉ đạo thực tiễn công tác GDPL, đặc biệt là trong công việc xác định nội dung, hình thức, phƣơng pháp cũng nhƣ xác định chủ thể, đối tƣợng của GDPL. Việc xác định đúng đắn hay sai lầm mục đích của GDPL do vậy có ảnh hƣởng lớn đến chất lƣợng của GDPL.