CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG ĐỘI THIẾU NIÊN TIỀN PHONG HỒ CHÍ MINH 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Xã hội ngày nay có sự thay đổi toàn diện về kinh tế, văn hóa, xã hội và lối sống với tốc độ nhanh đã làm nảy sinh những vấn đề mà trước đây con người chưa gặp, chưa trải nghiệm, chưa phải ứng phó, đương đầu. Hoặc có những vấn đề đã xuất hiện trước đây, nhưng nó chưa phức tạp, khó khăn và đầy thách thức như trong xã hội hiện đại, nên con người dễ hành động theo cảm tính và không tránh khỏi rủi ro. Nói cách khác, để đến bến bờ thành công và hạnh phúc trong xã hội hiện đại, con người cần phải có kỹ năng sống.
Vì vậy, kế hoạch hành động Dakar [53] về giáo dục cho mọi người tại mỗi quốc gia cần đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình giáo dục kỹ năng sống phù hợp và kỹ năng sống của người học là một tiêu chí của chất lượng giáo dục. Cho nên, kĩ năng sống là một khía cạnh của chất lượng giáo dục. Đánh giá chất lượng giáo dục cần tính đến những tiêu chí đánh giá kĩ năng sống của người học. Như vậy tiến hành giáo dục kỹ năng sống để nâng cao chất lượng giáo dục.
Cũng tại diễn đàn Giáo dục Thế giới Dakar, tháng 5/2000 trường học thân thiện với người học được phản ánh trong quan điểm toàn diện về chất lượng được nêu trong khuôn khổ Hành động Dakar. UNESCO và UNICEF đó nhận thấy mô hình “trường học thân thiện” với các yếu tố của nó là một giải pháp nâng cao chất lượng và đảm bảo công bằng giáo dục. Vì vậy mô hình này đó được phổ biến, áp dụng ở 40 quốc gia trên thế giới. Trong mô hình trường học thân thiện tiêu chí giáo dục kỹ năng sống vừa như là một biểu hiện của chất lượng giáo dục, vừa để giúp hoc sinh sống an toàn.
Ở Việt Nam, thuật ngữ kỹ năng sống bắt đầu được biết đến từ chương trình của UNICEF (1996) “Giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức khỏe và 7 phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” thông qua quá trình thực hiện chương trình này, nội dung của khái niệm kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống ngày càng được mở rộng [47]. Một trong những người đầu tiên có những nghiên cứu mang tính hệ thống về kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống ở Việt Nam là tác giả Nguyễn Thanh Bình [4]. Với một loạt các bài báo, các đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ và giáo trình, tài liệu tham khảo. Tác giả và cộng sự đã triển khai nghiên cứu tổng quan về quá trình nhận thức về kỹ năng sống và đề xuất yêu cầu tiếp cận kĩ năng sống trong giáo dục và giáo dục kỹ năng sống ở nhà trường phổ thông, đồng thời tìm hiểu thực trạng giáo dục kỹ năng sống cho người học từ trẻ mầm non đến người lớn thông qua giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên ở Việt Nam.
Trên cơ sở đó xác định thách thức và định hướng trong tương lai để đẩy mạnh giáo dục kỹ năng sống ở Việt Nam trên cơ sở thực tiễn ở Việt Nam và đối chiếu với mục tiêu 3 và mục tiêu 6 của Chương trình hành động Dakar (Trong khuôn khổ hợp tác giữa Viện chiến lược và chương trình giáo dục với UNESCO tại Hà Nội) [51]. Trên cơ sở phân tích, so sánh, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và tổng hợp, khái quát hoá qua nghiên cứu hai chu kì đề tài cấp Bộ về giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT. tác giả Nguyễn Thanh Bình đã xây dựng được khung lý luận về giáo dục kỹ năng sống từ xác định thuật ngữ, mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, nguyên tắc, phương pháp giáo dục cho đến đánh giá kết quả và tác động của giáo dục kỹ năng sống. Một số kết quả nghiên cứu khác có giá trị quan trọng trong việc lập quan điểm phương pháp luận cũng như định hướng và tiếp cận trong việc nghiên cứu kĩ năng sống, giáo dục kỹ năng sống cho học sinh như đề tài “Thực trạng phạm tội của học sinh- sinh viên Việt Nam trong mấy năm gần đây và vấn đề giáo dục pháp luật trong nhà trường” của tác giả Vương Thanh Hương và Nguyễn Minh Đức.
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thanh Bình và cộng sự [4] đã mô tả sinh động, đầy đủ, hệ thống về tiếp cận và thực hiện giáo dục kỹ năng sống 8 cho học sinh do Ngành giáo dục thực hiện. Ngành giáo dục đã triển khai chương trình giáo dục kỹ năng sống vào hệ thống giáo dục chính quy và không chính quy. Nội dung giáo dục của nhà trường phổ thông được định hướng bởi mục tiêu giáo dục kỹ năng sống. Theo đó, các nội dung giáo dục kỹ năng sống được triển khai theo các cấp học như: - Chương trình cải cách của giáo dục mầm non (1994) đã chú ý đến giáo dục hành vi, kĩ năng tự phục vụ, kĩ năng giao tiếp ứng xử.
Chương trình khung chăm sóc giáo dục trẻ đã chú trọng các nội dung như: phát triển thể chất, nhận thức, phát triển ngôn ngữ, tình cảm, nghệ thuật của trẻ. - Giáo dục kỹ năng sống ở bậc tiểu học tập trung vào các kĩ năng chính, kĩ năng cơ bản như đọc, viết, tính toán, nghe, nói; coi trọng đúng mức các kĩ năng sống trong cộng đồng, thích ứng với những thay đổi diễn ra hàng ngày trong xã hội hiện đại, hình thành các kĩ năng tư duy sáng tạo, phê phán, giải quyết vấn đề, ra quyết định, trí tưởng tượng. - Giáo dục trung học cơ sở chú trọng giáo dục các kỹ năng sống cơ bản cho học sinh như: năng lực thích nghi, năng lực hành động, năng lực ứng xử, năng lực tự học suốt đời; định hướng để học sinh học để biết, học để làm, học để chung sống và học để tự khẳng định. Với các bậc học trên, việc giáo dục kỹ năng sống được chủ yếu thông qua chương trình các môn học và các hoạt động giáo dục kỹ năng sống của nhà trường cùng với một số chương trình dự án do nước ngoài tài trợ.
Tuy nhiên, theo tác giả Hà Nhật Thăng: “Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là một quá trình tổ chức hoạt động bằng nhiều hình thức, phương pháp khác nhau thông qua nhiều lực lượng xã hội nhằm giúp các em có hiểu biết về những việc cần phải làm, phải tránh, đặc biệt giúp các em rèn luyện để có kĩ năng ứng xử phù hợp với các tình huống tốt, xấu có thể gặp trong cuộc sống" Hơn nữa, qua tập hợp nghiên cứu, phân tích tổng hợp và tổng quan vấn đề từ việc khảo sát các đề tài liên quan ở trong nước và có thể đưa ra nhận định: - Chủ yếu các đề tài phân tích làm rõ tính cấp bách của vấn đề kĩ năng sống, GDKNS chưa tập trung giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu lý luận một 9 cách có hệ thống về phương pháp, hình thức giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên nói chung và học sinh THSCS nói riêng. - Các đề tài đã đề cập đến những hình thức giáo dục kỹ năng sống cụ thể và chưa có kết quả thử nghiệm rõ ràng, cụ thể nên tính thuyết phục chưa cao. - Hoạt động Đội TNTP Hồ Chí Minh vốn có rất nhiều hoạt động rèn luyện kỹ năng sống và có ưu thế thực hiện giáo dục kỹ năng sống theo mục tiêu giáo dục trung học cơ sở. Nếu quản lý nhà trường đổi mới hoạt động Đội TNTP Hồ Chí Minh, tích hợp những kỹ năng sống cần giáo dục vào hoạt động Đội TNTP Hồ Chí Minh để học sinh lựa chọn, trải nghiệm và phát huy vài trò của mình với tập thể và xã hội, rèn cho các em lối sống biết tôn trọng, yêu quý tập thể, hình thành tác phong nhanh nhẹn và nề nếp kỉ luật thì hiệu quả chất lượng GDKNS sẽ được nâng cao.
Những phân tích trên dây cho thấy, giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học sơ sở mặc dù đã được định hướng bởi mục tiêu, nội dung, chương trình giáo dục, mà qua những hoạt động thực tiễn giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở còn một số hạn chế. Giáo dục kỹ năng sống là việc đòi hỏi sự tham gia của rất nhiều lực lượng xã hội bao gồm cả gia đình, nhà trường, và xã hội và bằng nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên, việc giáo dục kỹ năng sống tại các trường học chỉ mới dừng lại ở trên lớp, trong các tiết học hay sự lồng ghép trong một số hoạt động như: hoạt động ngoài giờ lên lớp, giáo dục đạo đức. Mục đích của giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong giờ giảng, trong các hoạt động chưa được xác định đúng mức, rõ ràng vì thế hiệu quả của việc giáo dục kỹ năng sống cho các em còn nhiều hạn chế.
Do vậy, cần thiết phải khai thác nội lực của chính hoạt động Đội TNTP Hồ Chí Minh nhằm thực hiện có hiệu quả nội dung giáo dục KNS cho học sinh ở bậc trung học cơ sở. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Quản lý là sự tác động giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý. Trong đó chủ thể quản lý là những tổ chức và cá nhân, những nhà quản lý cấp 10 trên, còn đối tượng quản lý là những tổ chức, cá nhân, nhà quản lý cấp dưới, cũng như các tập thể, cá nhân.
Sự tác động trong mối quan hệ quản lý mang tính hai chiều và được thực hiện thông qua các hoạt động tổ chức, lãnh đạo, lập kế hoạch, kiểm tra điều chỉnh. Tóm lại, quản lý là một khoa học vì nó nghiên cứu, phân tích về công việc quản lý, các quan hệ quản lý trong các tổ chức. Nó tổng quát hóa các kinh nghiêm tốt thành các nguyên tắc và lý thuyết áp dụng cho mọi hình thức quản lý tương tự. Nó cung cấp khái niệm cơ bản làm nền tảng cho việc nghiên cứu các môn học về quản lý.
Để quản lý cho hiệu quả, nhà quản lý phải linh hoạt vận dụng các lý thuyết vào những tình huống cụ thể. Nó đòi hỏi sự khôn khéo tinh tế cao để đạt tới mục tiêu. Nghệ thuật này chủ yếu phải được học ngay trong thực tiễn. Quản lý giáo dục Quản lý giáo dục là một khoa học quản lý chuyên ngành, người nghiên cứu trên nền tảng của khoa học quản lý nói chung, cũng giống như khái niệm quản lý, khái niệm quản lý giáo dục cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau.