Chương 1: Cơ sở lí luận về GDKNS cho HSTH người DTTS khu vực Tây Nguyên thông qua hoạt động dạy học. Chương 2: Thực trạng GDKNS cho HSTH người DTTS khu vực Tây Nguyên thông qua hoạt động dạy học. Chương 3: Biện pháp GDKNS cho HSTH người DTTS khu vực Tây Nguyên thông qua hoạt động dạy học và thực nghiệm sư phạm. 10 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC NGƢỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ KHU VỰC TÂY NGUYÊN THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về kĩ năng sống, giáo dục kĩ năng sống 1. Trên thế giới Thuật ngữ “kĩ năng sống” được Winthrop Adkins sử dụng lần đầu tiên trong một chương trình đào tạo nghề thực hiện vào những năm 1960 với tên gọi “The Adkins Life Skills Programme: Employability Skills Series”. Cho đến nay KNS và GDKNS đã được nhiều nhà quản lý, nhà giáo dục, nhà tâm lý học,… quan tâm tìm hiểu và nghiên cứu, tập trung nhiều về các khía cạnh: khái niệm, nội dung và hình thức GDKNS.
UNESCO đã chỉ ra ba thành tố của học vấn là: kiến thức, kĩ năng và thái độ, trong đó kĩ năng và thái độ đóng vai trò then chốt và cho rằng KNS là năng lực cá nhân, giúp cho việc thực hiện đầy đủ chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày [2], [3], [5], [10]. Từ những năm 70 của thế kỷ XX đã có những nghiên cứu và đưa ra cảnh báo về vấn đề giáo dục thế hệ trẻ, A. Toffler với “Cú sốc của tương lai” và J. Delors với “Học tập - một kho báu tiềm ẩn” và một số những nghiên cứu thử nghiệm GDKNS trong giáo dục dân số, giáo dục môi trường.
Năm 1979 Gilbert Botvin đã nghiên cứu và đưa ra một chương trình đào tạo KNS cho thanh thiếu niên từ lớp 7 đến lớp 9 thông qua các modul tương tác nhằm tạo điều kiện cho người học được tiếp cận và hình thành những kĩ năng xã hội như: kĩ năng ra quyết định, giải quyết vấn đề, tư duy phê phán, tính quyết đoán để thể hiện sự từ chối sử dụng các chất gây nghiện. Chương trình đào tạo này được triển khai ở nhiều loại hình trường học từ các trường công lập đến các trung tâm trại tạm giam trẻ chưa thành niên và đạt được những kết quả khả quan. Nó không chỉ ngăn ngừa tình trạng hút thuốc trong thanh thiếu niên mà còn giúp cải thiện mối quan hệ giữa GV và HS, nâng cao hiệu quả học tập cho người học [95]. Gần đây diễn đàn thế giới về giáo dục cho mọi người tại Darka đã xác định rõ: KNS là một trong 6 mục tiêu hàng đầu của mỗi quốc gia “Mỗi quốc gia phải đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình GDKNS”.
Các nước trên thế 11 giới nói chung, các nước phát triển nói riêng đều đã và đang quan tâm nhiều đến KNS, GDKNS cho người học [5]. Vào những năm 1990, khái niệm KNS lại xuất hiện trong một số chương trình giáo dục của UNICEF. Những nghiên cứu về KNS trên thế giới giai đoạn này đều mong muốn hướng đến tìm một quan niệm chung về KNS và GDKNS và từ đó đưa ra mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức GDKNS và hệ thống các KNS cơ bản cần có để giúp thế hệ trẻ vào đời thành công. Các tổ chức lớn trên thế giới đi tiên phong trong việc khuyến khích tất cả các quốc gia trên đưa GDKNS vào chương trình giáo dục của mình.
Mục tiêu của GDKNS cho thế hệ trẻ toàn cầu được các tổ chức này thống nhất là nâng cao tiềm năng của con người, đặc biệt là thế hệ trẻ để họ có được những hành động nhằm thích ứng và làm chủ cuộc sống và nâng cao chất lượng cuộc sống [100], [103]. Một số tổ chức phi chính phủ nước ngoài cũng triển khai những chương trình, dự án nhằm can thiệp giảm thiểu các nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS với những đối tượng có nguy cơ cao và trong đó cũng đã sử dụng cách tiếp cận KNS với quan niệm về KNS là những kĩ năng cốt lõi trên [102]. Với sự tài trợ của các tổ chức quốc tế như: WHO, UNICEF, UNESCO, UNFPA. chương trình GDKNS bước đầu được triển khai rộng khắp trên thế giới.
Vì vậy, những nghiên cứu lý luận về KNS tương đối phong phú, các cuộc hội thảo được diễn ra sâu rộng, cung cấp những tài liệu và phối hợp với nhau để đẩy mạnh hoạt động GDKNS cho thanh thiếu niên trên toàn thế giới với nhiều cách tiếp cận khác nhau. Theo tổ chức UNICEF (Quỹ Nhi đồng liên hiệp quốc), GDKNS là tạo ra sự thay đổi hành vi, là khả năng chuyển đổi kiến thức và thái độ thành hành động. Với mục đích là giúp cho người học có những kĩ năng ứng phó với các vấn đề của cuộc sống và tự hoàn thiện mình, UNICEF đưa ra cách phân loại KNS gồm 3 nhóm kĩ năng bao gồm: 1) Nhóm kĩ năng tự nhận thức và sống với chính mình ( kĩ năng tự nhận thức, lòng tự trọng, sự kiên định, đương đầu với cảm xúc, đương đầu với căng thẳng, đặt mục tiêu, xác định giá trị,.), 2) Nhóm kĩ năng tự nhận thức và sống với người khác( kĩ năng thiết lập quan hệ/ tương tác liên nhân cách, sự cảm thông, kĩ năng hợp tác, kĩ năng giao tiếp, thương lượng, kĩ năng giải quyết mâu thuẫn.3) Nhóm kĩ năng ra quyết định một cách hiệu quả (gồm: Tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề. 12 Theo quan niệm của tổ chức WHO (Tổ chức Y tế thế giới), KNS là năng lực mang tính tâm lý xã hội và giao tiếp được vận dụng trong tình huống hàng ngày để tương tác một cách hiệu quả với người khác và giải quyết có hiệu quả những vấn đề, những tình huống của cuộc sống hàng ngày.
Với tinh thần đó, WHO đưa ra hệ thống các KNS cần được giáo dục cho người học là: 1) Kĩ năng nhận thức bao gồm các kĩ năng cụ thể như: Tư duy phê phán, tư duy phân tích, khả năng sáng tạo, giải quyết vấn đề, nhận thức hậu quả, ra quyết định, tự nhận thức, đặt mục tiêu, xác định giá trị… 2) Kĩ năng đương đầu với xúc cảm, bao gồm: ý thức trách nhiệm, cam kết, kiềm chế căng thẳng, kiểm soát được cảm xúc, tự quản lí, tự giám sát và tự điều chỉnh,… 3) Kĩ năng xã hội hay kĩ năng tương tác bao gồm: giao tiếp; tính quyết đoán; thương thuyết, từ chối, hợp tác; sự cảm thông, chia sẻ; khả năng nhận thấy sự thiện cảm của người khác. Theo quan niệm của tổ chức UNESCO (Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa liên hiệp quốc) thì KNS là năng lực giúp con người thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hằng ngày. Theo UNESCO, ngoài những KNS chung, còn có những KNS trong những lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội như: giáo dục công dân; vệ sinh, thực phẩm, sức khoẻ, dinh dưỡng; giới, giới tính, sức khoẻ sinh sản vị thành niên; phòng tránh HIV/AIDS; phòng chống rượu, thuốc lá, ma tuý và các tệ nạn xã hội; ngăn ngừa thiên tai, bạo lực và rủi ro; hoà bình và giải quyết xung đột; bảo vệ thiên nhiên và môi trường; phòng tránh buôn bán trẻ em và phụ nữ. Giáo dục cảm xúc xã hội (Social and Emotional Learning - SEL) và giáo dục kĩ năng sống SEL là một lãnh vực mới phát triển trong 20 năm trở lại đây.
Nó bắt đầu vào thời điểm cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990, khi việc nghiên cứu về Trí tuệ cảm xúc (Emotional Intelligence) bắt đầu được nhiều nhà tâm lý học quan tâm. Thuật ngữ “Trí tuệ cảm xúc” bắt đầu được phổ biến vào năm 1995 khi cuốn sách cùng tên của học giả Daniel Goleman trở thành sách bán chạy nhất trong thời gian đó. Từ đó, rất nhiều nhà nghiên cứu ở các lĩnh vực có liên quan bắt đầu tìm kiếm những chuẩn mực chung để phát triển một mô hình hỗ trợ cho việc phát triển khả năng cảm xúc, xã hội và học thuật của trẻ em và thanh niên trong môi trường học đường. 13 Theo như Greenberg và các cộng sự (2003), thuật ngữ social and emotional learning được tạo ra bởi một nhóm những nhà nghiên cứu, nhà giáo dục, và những nhà hoạt động xã hội dành cho trẻ em.
Họ tham gia vào một cuộc họp diễn ra năm 1994 được Fetzer Institute tổ chức với mục đích thúc đẩy sự phát triển của lĩnh vực này trong việc đẩy mạnh các nỗ lực về ngăn chặn và sức khỏe tinh thần (prevention and mental health). Rất nhiều cá nhân trong nhóm Fetzer này về sau đã trở thành những nhân vật chủ chốt trong việc thành lập Collaborative for Academic, Social and Emotional Learning (CASEL). CASEL cho đến thời điểm này là tổ chức có tầm ảnh hưởng nhất trong việc đẩy mạnh việc nghiên cứu và thực hiện các mục tiêu của SEL trên toàn cầu [6]. SEL là một khung giáo dục (educational framework), không phải là một chương trình giáo dục cụ thể.
SEL không nhằm thay thế các chương trình giáo dục lối sống nhân cách, đào tạo năng lực xã hội, ngăn chặn bạo lực học đường trong nhà trường hiện nay mà cung cấp một mô hình tổng quan với những tiêu chuẩn phù hợp nhằm liên kết nhiều chương trình về giáo dục lối sống, nhân cách, hành vi đang có trong nhà trường nhằm tạo một hiệu quả tổng lực trong việc phát triển của HS. Những khía cạnh tốt nhất của nó có thể được kết hợp để giúp đáp ứng các nhu cầu về giáo dục và sức khỏe tinh thần của trẻ em và thanh niên [6] Khía cạnh xã hội (social) của SEL thể hiện một mối quan tâm đến việc nuôi dưỡng những mối quan hệ tích cực với người khác, như bạn bè, thầy cô, và các thành viên trong gia đình. Phần xã hội này của SEL phản ánh sự phát triển với các cá nhân khác (interpersonal). Khía cạnh cảm xúc (emotional) của SEL thể hiện một mối quan tâm đến việc nuôi dưỡng sự tự nhận thức bản thân, đặc biệt liên quan đến cảm xúc và cảm giác, nhưng cũng ngầm ngụ ý đến tư duy hay suy nghĩ có liên hệ với các cảm xúc của chúng ta.
Phần cảm xúc này của SEL phản ánh sự phát triển về mặt nội tâm (intrapersonal). Khía cạnh học tập (learning) của SEL ngụ ý rằng cả sự phát triển và điều chỉnh về mặt cảm xúc và xã hội đều có thể được dạy và học thông qua hướng dẫn, luyện tập, và phản hồi. Bằng việc đưa thêm từ học tập vào cụm từ, chúng ta cũng hiểu rằng nó có một sự liên kết tự nhiên với nhà trường hay những môi trường giáo dục khác.