phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, phần phụ lục thì đề tài có cấu trúc gồm 3 phần sau: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu Chƣơng 2: Biện pháp giáo dục kĩ năng phòng chống một số bệnh truyền nhiễm thƣờng gặp thông qua môn khoa học lớp 5. Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm 5 Phần 2.NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm liên quan 1. Giáo dục kĩ năng Giáo dục kĩ năng là một quá trình giáo dục, trong đó nhà giáo dục giúp học sinh hình thành năng lực thực hiện một hành động hay một hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, cách thức hành động, thao tác đúng đắn để đạt đƣợc mục đích đề ra.
Bệnh truyền nhiễm Bệnh truyền nhiễm là bệnh lây truyền từ cá thể này sang cá thể khác. Tác nhân gây bệnh rất đa dạng: có thể là vi khuẩn, vi rút, nấm, kí sinh trùng,… Không phải có tác nhân gây bệnh vào cơ thể là có thể gây bệnh. Muốn gây bệnh phải hội tụ 3 điều kiện: độc lực ( mầm bệnh và độc tố ), số lƣợng nhiễm bệnh đủ lớn và con đƣờng xâm nhiễm thích hợp. Bệnh truyền nhiễm có thể lây từ ngƣời sang ngƣời, lây truyền qua vết cắn của côn trùng hay động vật, lây qua bởi nuốt thức ăn hoặc nƣớc uống bị ô nhiễm.
Giáo dục kĩ năng phòng chống một số bệnh truyền nhiễm Giáo dục kĩ năng chống một số bệnh truyền nhiễm là quá trình giáo dục trong đó nhà giáo dục giúp học sinh vận dụng những tri thức, cách thức hành động, thao tác đúng đắn về phòng chống bệnh truyền nhiễm để có khả năng phòng chống một số bệnh truyền nhiễm, giúp bảo vệ thật tốt sức khỏe của bản thân trƣớc tác động xấu của môi trƣờng. Một vài nét về các bệnh truyền nhiễm thường gặp 1. Đặc điểm về các bệnh truyền nhiễm * Những đặc điểm chung Bệnh truyền nhiễm là bệnh do vi sinh vật gây ra, gọi là mầm bệnh. Mỗi một bệnh truyền nhiễm do một loại mầm bệnh gây nên.
Bệnh truyền nhiễm có khả năng lây truyền từ ngƣời bệnh sang ngƣời khoẻ bằng nhiều đƣờng khác nhau. Nhiều bệnh có một đƣờng lây truyền, một số ít 6 bệnh có 2 đến 3 đƣờng lây truyền. Bệnh phát triển thƣờng có chu kỳ mà trong lâm sàng gọi là các giai đoạn của bệnh diễn ra kế tiếp nhau: nung bệnh, khởi phát, toàn phát, lui bệnh và hồi phục. Sau khi mắc các bệnh truyền nhiễm, cơ thể ngƣời có đáp ứng miễn dịch dịch thể và đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào.Quá trình đó gọi là tạo thành miễn dịch.
Tuỳ theo bệnh và tuỳ theo cơ thể ngƣời mà miễn dịch đƣợc hình thành với mức độ khác nhau, thời gian tồn tại miễn dịch bảo vệ cũng khác nhau. Sức thụ bệnh khác nhau tuỳ theo loại bệnh và cơ thể bệnh nhân: có loại bệnh khi cơ thể nhiễm phải mầm bệnh sẽ mắc bệnh 100%; nhƣng cũng có loại mầm bệnh khi cơ thể nhiễm phải mầm bệnh không nhất thiết trƣờng hợp nào cũng mắc bệnh. * Đặc điểm tiến triển của bệnh Bệnh truyền nhiễm diễn ra qua các thời kỳ (hay còn gọi là "giai đoạn") sau: - Thời kỳ nung bệnh: Là từ lúc mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể ngƣời cho tới trƣớc khi xuất hiện những triệu chứng đầu tiên. Trong thời kỳ này, ngƣời bệnh không cảm thấy có triệu chứng gì.
Thời kỳ nung bệnh dài hay ngắn phụ thuộc vào loại bệnh, số lƣợng và độc tính của mầm bệnh, sức đề kháng của cơ thể. Thời kỳ này có thể rất ngắn (hàng giờ) nhƣng có thể rất dài (hàng tháng). Có không ít trƣờng hợp ngƣời nhiễm bệnh mang mầm bệnh kéo dài (thể tiềm tàng hoặc thể ngƣời lành mang khuẩn). - Thời kỳ khởi phát: Là những triệu chứng đầu tiên của bệnh xuất hiện nhƣng chƣa phải là lúc bệnh nặng và rầm rộ nhất.
Bệnh truyền nhiễm thƣờng khởi phát theo 2 kiểu: từ từ và đột ngột. Hầu hết các bệnh truyền nhiễm đều có sốt và một trong những triệu chứng khởi phát đầu tiên nhất cũng là sốt. - Thời kỳ toàn phát: Là lúc bệnh phát triển rầm rộ nhất và thể hiện đầy đủ các triệu chứng nhất, đồng thời cũng là lúc bệnh nặng nhất. Các biến chứng cũng thƣờng hay gặp trong thời kỳ này.
Trong cùng một lúc có thể biểu hiện nhiều triệu chứng ở nhiều cơ quan khác nhau. - Thời kỳ lui bệnh: Do sức chống đỡ của cơ thể ngƣời bệnh tốt, mặt khác do tác động của điều trị, mầm bệnh và các độc tố của chúng dần dần đƣợc loại trừ ra 7 khỏi cơ thể. Ngƣời bệnh sẽ cảm thấy đỡ dần.Những triệu chứng của bệnh ở thời kỳ toàn phát cũng dần dần mất đi. Nếu không đƣợc can thiệp sớm và có hiệu lực, một số bệnh diễn biến kéo dài, tái phát với những biến chứng và hậu quả nghiêm trọng.
- Thời kỳ hồi phục (lại sức): Sau khi mầm bệnh và độc tố của chúng đƣợc loại trừ ra khỏi cơ thể ngƣời bệnh thì những cơ quan bị tổn thƣơng dần dần bình phục và trở lại hoạt động hầu nhƣ bình thƣờng, chỉ còn những rối loạn không đáng kể. Bệnh nhân có thể ra viện về nghỉ ngơi hoặc có thể tiếp tục lao động, chiến đấu đƣợc tuỳ theo khả năng bình phục. * Phân loại bệnh truyền nhiễm Có rất nhiều cách phân loại bệnh truyền nhiễm tuỳ theo những quan niệm, mục đích khác nhau. Trong lâm sàng ngƣời ta hay áp dụng cách phân loại bệnh theo đƣờng lây gồm 5 nhóm để tiện cách ly, quản lý và đồng thời cũng tiện cho săn sóc điều trị, 5 nhóm bệnh đó là: - Bệnh lây truyền theo đƣờng tiêu hoá: Virut xâm nhập qua miệng, lúc đầu nhân lên trong mô bạch huyết, sau đó một mặt vào máu rồi tới các cơ quan khác nhau của hệ tiêu hóa, một mặt vào xoang ruột rồi ra ngoài theo phân.
Các bệnh thƣờng gặp nhƣ: viêm gan, quai bị, tiêu chảy, viêm dạ dày - ruột,. - Bệnh lây truyền theo đƣờng hô hấp:Virut từ sol khí đi qua niêm mạc vào mạch máu rồi tới các nơi khác nhau của đƣờng hô hấp. Các bệnh thƣờng gặp nhƣ: viêm phổi, viêm họng, viêm phế quản, viêm đƣờng hô hấp cấp (bệnh SARS). - Bệnh lây theo đƣờng máu: virut vào cơ thể theo đƣờng máu.
Các bệnh thƣờng gặp nhƣ HIV/AIDS, viêm gan B,… - Bệnh lây truyền theo đƣờng da và niêm mạc: Virut vào cơ thể qua đƣờng hô hấp, sau đó vào máu rồi mới đi đến da, niêm mạc. Tuy nhiên cũng thƣờng lây qua tiếp xúc trực tiếp hoặc qua đồ dùng hàng ngày. Các bệnh trên da nhƣ đậu mùa, mụn cơm, sởi. - Bệnh truyền nhiễm có thể lây bằng nhiều đƣờng khác nhau: Virut vào cơ thể theo nhiều con đƣờng: hô hấp, tiêu hóa, niệu, sau đó vào máu rồi tới hệ thần 8 kinh trung ƣơng (nhƣ viêm não, viêm màng não, bại liệt).
Một số virut (bệnh dại) tới thần kinh trung ƣơng theo dây thần kinh ngoại vi. Một số bệnh truyền nhiễm thường gặp và biểu hiện của chúng Trong những năm gần đây đã xuất hiện rất nhiều căn bệnh truyền nhiễm rất nguy hiểm, tuy nhiên ở đây chỉ nhắc đến một số bệnh truyền nhiễm thƣờng gặp nhất và trẻ em hay mắc phải nhất. Cụ thể: * Sốt xuất huyết: Là bệnh truyền nhiễm do vi-rút gây ra, muỗi vằn là động vật trung gian truyền bệnh. Hiện nay chƣa có thuốc đặc trị để chữa bệnh này.
Dấu hiệu của bệnh: Đầu tiên là sốt cao liên tục kéo dài từ 2-7 ngày. Kèm với sốt cao là đau họng và cảm giác buồn nôn. Sau đó là xuất huyết dƣới da, bên cạnh đó ngƣời bệnh có thể bị xuất huyết niêm mạc. Ở trẻ em còn có thể xuất hiện các hiện tƣợng kèm theo nhƣ: chảy máu cam, đi tiểu ra máu,… Ở nhiều ngƣời bị nặng sẽ có biểu hiện đại tiện ra máu, nôn ra máu, nhức đầu, đau khớp,… có thể dẫn đến tử vong nếu không kịp thời chữa trị.
* Viêm gan A: Là bệnh lây qua đƣờng tiêu hóa, hiện nay chƣa có thuốc đặc trị. Bệnh chỉ xuất hiện nhƣ là một nhiễm trùng mới, cấp tính, bệnh diễn biến từ vài tuần đến vài tháng và ít để lại những di chứng trầm trọng nhƣ xơ gan hay ung thƣ gan. Chúng lây qua đƣờng tiêu hoá do ăn uống các loại thực phẩm, nƣớc ô nhiễm… Nếu một ngƣời nhiễm virut viêm gan A, làm công việc nấu ăn, phục vụ ăn uống trong bếp ăn tập thể… khả năng lây lan bệnh rất nhanh. Mọi ngƣời có thể nhiễm virut do ô nhiễm uống nƣớc, do tiếp xúc với ngƣời bị nhiễm bệnh… Bệnh lây lan rất nhanh trƣớc khi các triệu chứng xuất hiện nên khó phát hiện để phòng tránh.
Sau khi bị nhiễm virut 2- 3 tuần bệnh nhân xuất hiện các triệu chứng: mệt mỏi, buồn nôn, nôn, đau bụng hay có cảm giác khó chịu ở bụng, chán ăn, sốt nhẹ, vàng da và mắt, đau cơ, ngứa,… * Bệnh sốt rét: Là bệnh truyền nhiễm do kí sinh trùng gây ra, muỗi A-nô- phen là động vật trung gian gây bệnh. Hiện nay đã có thuốc chữa và thuốc phòng.Bệnh sốt rét: đƣợc chia làm ba giai đoạn: 9 Giai đoạn 1: Xuất hiện cơn sốt kèm theo cảm giác ớn lạnh, nhức mỏi, đau đầu, buồn nôn,… Giai đoạn 2: Thì bị sốt cao lên đến 39-40 độ C, Giai đoạn 3: Bệnh nhân toát mồ hôi nhiều. Bệnh sốt rét có thể khiến bệnh nhân rối loạn ý thức, sốt cao liên tục, rối loạn tiêu hóa, da xanh, niêm mạc nhợt nhạt, suy gan,… có thể dẫn đến tử vọng nếu không kịp thời chữa trị. * Bệnh viêm não: Là bệnh truyền nhiễm do loại vi rút có trong máu gia súc, chim chuột, khỉ,…gây ra.
Muỗi hút máu từ con vật có bệnh rồi truyền sang con ngƣời. Bệnh viêm não thƣờng khởi bệnh đột ngột với các triệu chứng sốt cao, đau đầu, ói mửa, lừ đừ, bỏ ăn, có thể kèm theo ho, tiêu chảy, sau 1-2 ngày xuất hiện cơn co giật mạnh, và có thể tử vong rất nhanh chóng. Ngoài ra còn một số bệnh truyền nhiễm thƣờng gặp ở học sinh nhƣ: tiêu chảy, cảm cúm, sởi, tay-chân-miệng, thủy đậu,… 1. Tình hình phát triển của các bệnh truyền nhiễm hiện nay Trên thế giới: Trong năm 2014, tình hình bệnh truyền nhiễm trên thế giới diễn biến hết sức phức tạp, nhiều dịch bệnh mới nổi và nguy hiểm phát sinh, gia tăng đột biến tại nhiều nƣớc trên thế giới, gây ảnh hƣởng nghiêm trọng đến sức khỏe và kinh tế.