Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Biện pháp giáo dục kĩ năng phòng chống một số bệnh truyền nhiễm thường gặp thông qua môn Khoa học lớp 5" do sinh viên Nguyễn Thị Hoa thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS. Lê Thị Bình tại Trường Đại học Quảng Nam (năm 2016), thuộc chuyên ngành Giáo dục Tiểu học. Nghiên cứu xuất phát từ thực trạng tác động của ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu tại Việt Nam, dẫn đến sự gia tăng của các bệnh dịch truyền nhiễm nguy hiểm như sốt rét, sốt xuất huyết, viêm gan A, viêm não, tiêu chảy, tả, lị, tay - chân - miệng. Theo các số liệu y tế được tác giả trích dẫn:

  • Tại Việt Nam có từ 10% đến 20% dân số nhiễm vi-rút viêm gan B.
  • Năm 2015, cả nước ghi nhận gần 25.000 trường hợp mắc sốt xuất huyết tại 48 tỉnh, thành phố với 12 trường hợp tử vong.
  • Từ đầu năm 2014, cả nước có 27.868 ca mắc sốt rét, 73 ca sốt rét ác tính và 06 trường hợp tử vong tập trung tại các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Quảng Bình, Đồng Nai, An Giang, Bình Phước (trong đó phân bố ký sinh trùng sốt rét tập trung chủ yếu ở miền Trung và Tây Nguyên với 86,3%).

Trẻ em tiểu học là đối tượng có sức đề kháng chưa hoàn thiện, dễ mắc các bệnh truyền nhiễm. Tuy nhiên, thực tế dạy học môn Khoa học và Tự nhiên - Xã hội tại trường tiểu học phần lớn chỉ dừng lại ở việc truyền thụ kiến thức lý thuyết thuần túy mà chưa chú trọng giáo dục kĩ năng thực hành và thái độ phòng bệnh. Học sinh có thể ghi nhớ bài học nhưng lúng túng khi xử lý các tình huống thực tế hoặc thiếu kĩ năng tự bảo vệ bản thân và môi trường sống xung quanh.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lí luận về giáo dục kĩ năng phòng chống một số bệnh truyền nhiễm thường gặp cho học sinh thông qua môn Khoa học lớp 5.
  2. Khảo sát và đánh giá thực trạng của việc dạy học và rèn luyện kĩ năng phòng chống bệnh truyền nhiễm ở trường tiểu học.
  3. Đề xuất các biện pháp sư phạm nhằm nâng cao chất lượng giáo dục kĩ năng phòng chống bệnh truyền nhiễm cho học sinh lớp 5, giúp các em hình thành năng lực tự bảo vệ sức khỏe trước tác động xấu của môi trường.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là quá trình giáo dục kĩ năng phòng chống một số bệnh truyền nhiễm thường gặp thông qua dạy học môn Khoa học lớp 5 ở trường tiểu học. Phạm vi nghiên cứu giới hạn vào 4 bệnh truyền nhiễm trong chương trình: sốt rét, sốt xuất huyết, viêm não và viêm gan A. Địa bàn khảo sát thực tiễn và thực nghiệm sư phạm được tiến hành tại Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, phường Tân Thạnh, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam trong năm học 2015 – 2016.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của công trình được xây dựng dựa trên các khái niệm giáo dục học và y học cơ bản:

  • Giáo dục kĩ năng: Quá trình nhà giáo dục giúp học sinh hình thành năng lực thực hiện hành động thông qua lựa chọn và vận dụng tri thức, thao tác đúng đắn nhằm đạt mục đích đề ra.
  • Bệnh truyền nhiễm: Bệnh lây truyền từ cá thể này sang cá thể khác do vi sinh vật (vi khuẩn, vi-rút, nấm, ký sinh trùng) gây ra; bệnh hình thành khi hội tụ đủ 3 điều kiện gồm độc lực mầm bệnh, số lượng nhiễm đủ lớn và con đường xâm nhiễm thích hợp. Về diễn tiến lâm sàng, bệnh trải qua 5 giai đoạn: nung bệnh, khởi phát, toàn phát, lui bệnh và hồi phục. Phân loại theo đường lây gồm 5 nhóm: tiêu hóa, hô hấp, đường máu, da và niêm mạc, và lây qua nhiều đường.
  • Đặc điểm thể chất và nhận thức của học sinh lớp 5: Hệ xương còn nhiều sụn, hệ cơ phát triển mạnh; hệ thần kinh cấp cao đang hoàn thiện, tư duy trực quan hành động dần chuyển sang tư duy trừu tượng và khái quát hóa; chú ý có chủ định và trí nhớ có chủ định phát triển nhưng ý chí chưa bền vững, hành vi còn phụ thuộc vào hứng thú nhất thời; hệ miễn dịch còn yếu, sức đề kháng chưa cao.
  • Cơ sở pháp lý và chương trình: Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm; chương trình môn Khoa học lớp 5 thuộc chủ đề Con người và sức khỏe gồm 4 bài: Bài 12 (Phòng bệnh sốt rét), Bài 13 (Phòng bệnh sốt xuất huyết), Bài 14 (Phòng bệnh viêm não), Bài 15 (Phòng bệnh viêm gan A).

Tác giả phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

  • Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa các tài liệu y học, tâm lý học, giáo dục học và sách giáo khoa.
  • Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Phương pháp điều tra: Sử dụng phiếu hỏi khảo sát nhận thức, mức độ quan tâm, phương pháp giảng dạy và mức độ vận dụng kĩ năng.
    • Phương pháp quan sát: Quan sát quá trình dạy học môn Khoa học và các biểu hiện hành vi của học sinh tại trường.
    • Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn trực tiếp giáo viên và phụ huynh học sinh về tình hình mắc bệnh và thói quen vệ sinh của trẻ.
    • Phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia: Tham khảo ý kiến giảng viên và giáo viên chuyên môn để định hướng giải pháp.
    • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Dạy thực nghiệm đối chứng để kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp.
    • Phương pháp thống kê, xử lý số liệu: Xử lý và tính tỷ lệ phần trăm các kết quả điều tra.

Mẫu khảo sát thực tế tại Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi gồm: 06 giáo viên, 68 học sinh lớp 5 và 30 phụ huynh học sinh.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

Chương 1 làm rõ các đặc trưng lâm sàng và phương thức truyền nhiễm của 4 bệnh trọng tâm:

  • Sốt xuất huyết: Do vi-rút gây ra, muỗi vằn là trung gian truyền bệnh, chưa có thuốc đặc trị; sốt cao 2–7 ngày, xuất huyết dưới da/niêm mạc.
  • Viêm gan A: Lây qua đường tiêu hóa do thức ăn và nước uống ô nhiễm, chưa có thuốc đặc trị; gây mệt mỏi, sốt nhẹ, vàng da, vàng mắt.
  • Sốt rét: Do ký sinh trùng gây ra, muỗi A-nô-phen là trung gian truyền bệnh, đã có thuốc phòng và điều trị; diễn tiến qua 3 giai đoạn (rét run, sốt cao 39–40°C, vã mồ hôi).
  • Viêm não: Do vi-rút có trong máu gia súc, chim, chuột gây ra, muỗi là trung gian truyền bệnh; khởi phát đột ngột, sốt cao, co giật, có nguy cơ tử vong nhanh hoặc để lại di chứng nặng.

Khảo sát thực trạng mắc bệnh tại Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi cho thấy: 62,5% học sinh từng mắc bệnh truyền nhiễm trong năm học, 37,5% chưa mắc. Đa số mắc sốt xuất huyết, tiêu chảy, cảm cúm, sốt rét (mỗi em mắc từ 2-3 lần/năm). Về mức độ bệnh tật: 50% ở mức độ nhẹ (uống thuốc vẫn đi học), 27,3% mức độ nặng (phải nghỉ học ở nhà điều trị), 22,7% mức độ rất nặng (phải nhập viện điều trị).

Về nhận thức: 100% giáo viên, 89,06% học sinh và 80% phụ huynh học sinh đánh giá việc giáo dục kĩ năng phòng chống bệnh truyền nhiễm là quan trọng và rất quan trọng; 54,84% học sinh rất mong muốn và 43,75% mong muốn được trang bị các kĩ năng này.

Khảo sát mức độ cập nhật thông tin về bệnh truyền nhiễm được tổng hợp ở bảng sau:

Đối tượng Thường xuyên Thỉnh thoảng Hiếm khi Không bao giờ
Giáo viên 100% 0% 0% 0%
Phụ huynh học sinh 30% 40% 20% 10%

Về phương pháp dạy học và mức độ hứng thú: 100% giáo viên phản ánh có đổi mới phương pháp (thảo luận nhóm, quan sát, đàm thoại, ứng dụng công nghệ thông tin). Kết quả đánh giá mức độ hứng thú học tập của học sinh:

Mức độ hứng thú Tỷ lệ học sinh lựa chọn
Rất hứng thú 43,75%
Hứng thú 43,75%
Không hứng thú 12,50%

Tuy nhiên, giờ học chủ yếu nặng về lý thuyết, ít hoạt động thực hành rèn luyện kĩ năng và hình thành thái độ. Đáng chú ý, có sự chênh lệch lớn giữa đánh giá của giáo viên và phụ huynh về khả năng vận dụng kĩ năng phòng chống bệnh của học sinh:

Mức độ đánh giá Giáo viên đánh giá Phụ huynh học sinh đánh giá
Có khả năng vận dụng 83,33% 33,33%
Chưa có khả năng vận dụng 16,67% 46,67%
Không có khả năng vận dụng 0,00% 20,00%

Khảo sát bài tập cho thấy: 66,67% giáo viên cho rằng thường xuyên xây dựng bài tập rèn kĩ năng, nhưng 68,75% học sinh phản ánh thầy cô chỉ thỉnh thoảng đưa ra bài tập; 30% phụ huynh cho biết giáo viên không giao nhiệm vụ thực hành phòng bệnh ở nhà. Việc kiểm tra, đánh giá chủ yếu tập trung vào phần tái hiện kiến thức trước bài mới (50% giáo viên kết hợp kiểm tra kiến thức và kĩ năng, 33,33% chỉ quan tâm kĩ năng, 16,67% chỉ kiểm tra kiến thức), bỏ ngỏ đánh giá thái độ và hành vi thực tế tại gia đình và cộng đồng.

Tác giả chỉ ra nguyên nhân:

  • Khách quan: Biến đổi khí hậu, thiên tai bão lũ, điều kiện kinh tế vệ sinh của một số gia đình còn thấp.
  • Chủ quan: Phụ huynh chú trọng thành tích học tập văn hóa, nuông chiều con cái; nhà trường ưu tiên các cuộc thi văn hóa (Toán, Tiếng Việt); giáo viên thiếu thời gian tổ chức hoạt động trải nghiệm; học sinh chưa tự giác rèn luyện thói quen phòng bệnh.

Chương 2: Biện pháp giáo dục kĩ năng phòng chống một số bệnh truyền nhiễm thường gặp thông qua môn Khoa học lớp 5

Tác giả đề xuất các biện pháp dựa trên 4 nguyên tắc:

  1. Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích: Hướng trực tiếp vào hình thành kĩ năng thực hành và thái độ tự giác phòng bệnh.
  2. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn và khả thi: Phù hợp điều kiện cơ sở vật chất nhà trường, năng lực nhận thức và đặc điểm thể chất của học sinh lớp 5.
  3. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống và toàn vẹn: Kế thừa tri thức cũ, rèn luyện từ kĩ năng đơn giản đến phức tạp, đồng bộ giữa trường học, gia đình và môi trường xã hội.
  4. Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò tích cực, tự giác của học sinh, vai trò hướng dẫn của giáo viên và vai trò hỗ trợ của gia đình.

Hệ thống biện pháp cụ thể bao gồm:

  • Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực:
    • Phương pháp dự án: Giao dự án cá nhân bắt buộc (như dự án vệ sinh phòng chống sốt xuất huyết, phát quang bụi rậm, lật úp dụng cụ chứa nước), yêu cầu học sinh thực hiện trong 1–2 tuần có sự trợ giúp của phụ huynh và báo cáo kết quả.
    • Phương pháp điều tra: Hướng dẫn học sinh điều tra thực tế nguyên nhân, hậu quả và ổ dịch muỗi lăng quăng tại địa phương nơi sinh sống.
    • Phương pháp thực hành: Tổ chức thao tác trực tiếp tại lớp và trường học (dọn vệ sinh trường lớp, thu gom chai lọ vỡ, lấp vũng nước đọng, rửa tay đúng cách).
    • Phương pháp đóng vai: Thiết kế tình huống ứng xử thực tế (ví dụ: phát hiện em nhỏ bốc bánh ăn khi tay bẩn để phòng bệnh viêm gan A; thấy bạn nuôi cá cảnh để chậu bẩn có bọ gậy) nhằm hình thành thái độ và phản xạ can thiệp đúng đắn.
    • Phương pháp trò chơi: Phát động phong trào thi đua "Tích cực phòng chống bệnh...", khuyến khích học sinh thực hiện việc làm vệ sinh tại nhà và tuyên dương khen thưởng.
  • Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá: Chuyển từ kiểm tra ghi nhớ sang đánh giá kĩ năng và thái độ; phối hợp đánh giá chéo giữa giáo viên, phụ huynh và học sinh tự đánh giá việc thực hiện nền nếp phòng bệnh tại gia đình.
  • Phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội: Kết hợp với trạm y tế địa phương, tận dụng các buổi sinh hoạt chào cờ, ngoại khóa ngoài giờ lên lớp; thiết lập kênh liên lạc để phụ huynh kiểm tra, uốn nắn hành vi sinh hoạt của học sinh tại nhà (ngủ màn, ăn chín uống sôi).
  • Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng chuyên biệt theo 4 bài học:
    • Bài tập củng cố kiến thức: Trắc nghiệm, tự luận, nối cột khái niệm (tác nhân gây bệnh, vật trung gian, dấu hiệu đặc trưng).
    • Bài tập tình huống, bày tỏ quan điểm: Phân tích đúng/sai các hành vi sinh hoạt hàng ngày (như dùng chung đồ cá nhân với người mắc viêm gan A, uống nước lã).
    • Bài tập thực hành dài ngày có phiếu theo dõi: Học sinh ghi chép việc làm hàng ngày (ngủ màn, diệt lăng quăng, thay nước bình hoa, bỏ muối vào bát nước kê chân chạn bát) kèm xác nhận định kỳ của phụ huynh.
    • Thiết kế kế hoạch bài dạy chi tiết cho từng bài học (Bài 12, 13, 14, 15).

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Chương 3 trình bày kế hoạch tổ chức thực nghiệm sư phạm tại Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi:

  • Mục đích và nhiệm vụ: Kiểm chứng tính khả thi, sự phù hợp và hiệu quả của các biện pháp sư phạm đã đề xuất trong việc nâng cao kĩ năng và chuyển biến thái độ phòng bệnh của học sinh lớp 5.
  • Thiết kế thực nghiệm: Lựa chọn học sinh lớp 5 chia thành lớp thực nghiệm (giảng dạy theo giáo án đổi mới, tích hợp phương pháp dạy học dự án, đóng vai, thực hành và hệ thống bài tập kĩ năng liên kết phụ huynh) và lớp đối chứng (giảng dạy theo phương pháp thuyết trình, quan sát truyền thống).
  • Đánh giá: Tiến hành đo lường mức độ tiếp thu kiến thức, kĩ năng thao tác và mức độ tự giác thực hiện các biện pháp vệ sinh phòng bệnh thông qua phiếu kiểm tra, bảng khảo sát hành vi tại gia đình và quan sát sư phạm.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đạt được các kết quả và đóng góp cụ thể:

  • Làm rõ bức tranh thực trạng dạy học phòng bệnh truyền nhiễm tại địa bàn khảo sát: Chỉ ra mâu thuẫn lớn giữa tỷ lệ mắc bệnh cao (62,5% học sinh) và nhận thức tích cực (100% giáo viên, 80% phụ huynh coi trọng) với khả năng thực hành thực tế của học sinh (66,67% phụ huynh đánh giá con em chưa hoặc không có kĩ năng vận dụng).
  • Đề xuất hệ thống giải pháp sư phạm đồng bộ: Xây dựng quy trình phối hợp 5 phương pháp dạy học tích cực (dự án, điều tra, thực hành, đóng vai, trò chơi) gắn với đổi mới hình thức kiểm tra đánh giá toàn diện cả 3 mặt: Kiến thức - Kĩ năng - Thái độ.
  • Đóng góp sản phẩm thực tiễn: Cung cấp hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng chuyên biệt cho 4 bài học trọng tâm trong sách giáo khoa Khoa học 5 (Bài 12, 13, 14, 15), bộ phiếu bài tập thực hành theo dõi việc làm tại nhà có chữ ký xác nhận của phụ huynh (Bảng 5) và mẫu dự án cá nhân (Bảng 4).
  • Giá trị khoa học: Khóa luận góp phần giải quyết khoảng trống trong nghiên cứu giáo dục tiểu học địa phương khi các tài liệu trước đây chủ yếu tập trung vào truyền đạt tri thức sinh học tổng quát hoặc ứng phó biến đổi khí hậu nói chung, chưa đi sâu vào quy trình rèn luyện kĩ năng phòng bệnh truyền nhiễm cụ thể cho học sinh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có các hạn chế được rút ra từ phạm vi và thiết kế nghiên cứu:

  • Phạm vi địa bàn khảo sát hẹp: Dữ liệu thực trạng thu thập tại 01 trường tiểu học (Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, Tam Kỳ, Quảng Nam) với quy mô mẫu nhỏ (06 giáo viên, 68 học sinh, 30 phụ huynh), chưa phản ánh toàn diện các địa bàn nông thôn, miền núi có nguy cơ dịch tễ sốt rét cao.
  • Giới hạn nội dung: Đề tài mới chỉ khai thác 4 bài học cụ thể trong môn Khoa học lớp 5 (chủ đề Con người và sức khỏe), chưa mở rộng sang toàn bộ chương trình Tự nhiên và Xã hội ở các khối lớp 1, 2, 3, 4 hoặc các bệnh truyền nhiễm học đường mới phát sinh (như tay - chân - miệng, đau mắt đỏ).

Hướng mở rộng nghiên cứu:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát và thực nghiệm sư phạm trên nhiều trường tiểu học thuộc các vùng địa lý khác nhau để tăng tính đại diện của số liệu.
  • Xây dựng ngân hàng bài tập và sổ tay hướng dẫn thực hành phòng chống dịch bệnh tích hợp xuyên suốt chương trình môn Tự nhiên và Xã hội / Khoa học từ lớp 1 đến lớp 5.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên chuyên ngành Giáo dục Tiểu học: Tham khảo khung lý luận, quy trình điều tra thực trạng sư phạm, phương pháp thiết kế bài tập rèn luyện kĩ năng sống và kĩ năng tự bảo vệ sức khỏe cho học sinh.
  • Giáo viên tiểu học giảng dạy môn Khoa học lớp 5: Ứng dụng trực tiếp kế hoạch bài dạy mẫu, các tình huống đóng vai và bảng mẫu dự án cá nhân cho 4 bài học: Bài 12 (sốt rét), Bài 13 (sốt xuất huyết), Bài 14 (viêm não), Bài 15 (viêm gan A).
  • Cán bộ y tế học đường và nhà quản lý giáo dục: Tham khảo mô hình phối hợp "Nhà trường - Gia đình - Xã hội" trong việc kiểm soát dịch bệnh học đường và thiết kế phiếu theo dõi hành vi vệ sinh định kỳ tại gia đình.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận tập trung nghiên cứu biện pháp giáo dục kĩ năng phòng chống những bệnh truyền nhiễm cụ thể nào?
Nghiên cứu tập trung vào 4 bệnh truyền nhiễm thường gặp tương ứng với 4 bài học trong chương trình Khoa học lớp 5 (chủ đề Con người và sức khỏe): bệnh sốt rét (Bài 12), sốt xuất huyết (Bài 13), viêm não (Bài 14) và viêm gan A (Bài 15).

2. Tỷ lệ mắc bệnh truyền nhiễm của học sinh lớp 5 tại trường khảo sát thực tế là bao nhiêu?
Theo khảo sát tại Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi (Tam Kỳ, Quảng Nam), có 62,5% học sinh bị mắc bệnh truyền nhiễm trong năm học 2015 – 2016 (chủ yếu là sốt xuất huyết, sốt rét, cảm cúm, tiêu chảy); trong đó 50% ở mức độ nhẹ, 27,3% mức độ nặng và 22,7% mức độ rất nặng phải nhập viện điều trị.

3. Số liệu khảo sát cho thấy mâu thuẫn gì giữa đánh giá của giáo viên và phụ huynh về kĩ năng phòng bệnh của học sinh?
Có sự chênh lệch lớn trong đánh giá: 83,33% giáo viên nhận định học sinh có khả năng vận dụng kĩ năng phòng chống bệnh vào cuộc sống, trong khi có tới 66,67% phụ huynh học sinh đánh giá con em mình chưa có khả năng (46,67%) hoặc không có khả năng (20,00%) vận dụng các kĩ năng đã học vào thực tế.

4. Những phương pháp dạy học tích cực nào được tác giả đề xuất để thay thế cách dạy lý thuyết truyền thống?
Tác giả đề xuất kết hợp 5 phương pháp dạy học tích cực: phương pháp dự án (thực hiện kế hoạch vệ sinh tại nhà), phương pháp điều tra (khảo sát ổ dịch bọ gậy tại địa phương), phương pháp thực hành (dọn vệ sinh, phát quang bụi rậm, rửa tay đúng cách), phương pháp đóng vai (xử lý tình huống vệ sinh thực tế) và phương pháp trò chơi (phát động phong trào thi đua).

5. Phiếu bài tập rèn luyện kĩ năng tại nhà có điểm gì đặc biệt trong kiểm tra, đánh giá?
Phiếu bài tập theo dõi việc làm phòng bệnh hàng ngày (như đậy kín chum vại, ngủ màn, thay nước bình hoa, diệt lăng quăng) yêu cầu học sinh tự ghi nhận số lần thực hiện và bắt buộc phải có chữ ký xác nhận định kỳ của phụ huynh học sinh, giúp liên kết giám sát giữa nhà trường và gia đình.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Hoa đã phản ánh thực trạng dạy học mang nặng tính lý thuyết môn Khoa học lớp 5 tại Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, chỉ ra khoảng cách giữa tri thức được học và hành vi thực tế của học sinh trước các dịch bệnh nguy hiểm. Đề tài đã xây dựng hệ thống biện pháp sư phạm đồng bộ bao gồm đổi mới phương pháp dạy học tích cực, đa dạng hóa hình thức kiểm tra đánh giá và thiết kế hệ thống bài tập thực hành liên kết giữa nhà trường với gia đình cho 4 bài học phòng bệnh truyền nhiễm. Công trình mang tính ứng dụng sư phạm rõ nét, cung cấp tài liệu tham khảo thiết thực cho giáo viên tiểu học trong việc giáo dục kĩ năng tự bảo vệ sức khỏe cho học sinh.