Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG MỀM VÀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài Tổng hợp các nghiên cứu về kỹ năng mềm ở nước ngoài, trước hết phải kể đến tác phẩm nổi tiếng “Trí tuệ xúc cảm” ra đời năm 1995 của nhà tâm lý học người Mỹ Daniel Goleman. Theo Goleman, chỉ số thông minh (IQ) không quan trọng bằng chỉ số trí tuệ xúc cảm (EQ) trong cả cuộc sống lẫn trong công việc; 90% các yếu tố quyết định sự nổi trội trong sự nghiệp của các nhà lãnh đạo là trí tuệ xúc cảm. Trí tuệ xúc cảm là nghệ thuật kiểm soát cảm xúc và định hướng cho nó một cách đúng đắn, nó là tập hợp các kỹ năng mà con người có thể có được thông qua rèn luyện. Trí tuệ cảm xúc là tên gọi đầy đủ hơn của các cụm từ như “năng lực” hay “kỹ năng mềm”.2] Về kỹ năng sống: Vào những năm 1960, thuật ngữ KNS được đưa ra bởi các nhà tâm lý học thực hành và xem nó là một khả năng xã hội rất quan trọng trong việc phát triển cá nhân.
Đến những năm 90 của thế kỷ XX thuật ngữ này thường xuyên xuất hiện trong nhiều chương trình giáo dục của Quỹ cứu trợ Nhi đồng Liên hiệp quốc – UNIEF. Những nghiên cứu về KNS trong trong giai đoạn này hướng đến thống nhất quan niệm chung về KNS và đưa ra danh mục KNS cơ bản cần có. Đó là nền tảng để các tổ chức Y tế thế giới – WHO, UNESCO cùng nhau xây dựng chương trình giáo dục KNS cho thanh thiếu niên. Những kỹ năng này đã hỗ trợ đắc lực hơn cho trẻ em và thanh thiếu niên khi đối mặt với những thử thách trong cuộc sống so với những kỹ năng cơ bản như đọc, viết, tính toán.
[20] Tính đến nay, thế giới đã có nhiều công trình, dự án nghiên cứu về kỹ năng sống. Bốn trụ cột về giáo dục mà UNESCO đã đưa ra trong thời gian gần đây: “Học để biết, học để làm, học để tự khẳng định mình và học để chung sống”, thực chất 1 chính là một cách tiếp cận kỹ năng sống. Từ đó các quốc gia từng bước nghiên cứu và đưa kỹ năng sống vào chương trình giáo dục chính khóa và ngoại khóa. Nghiên cứu “Các khóa học kỹ năng sống giúp sinh viên tăng sự thành công trong học tập” của nhóm tác giả John Winn, Commisioner, J.David Armstrong, Jr.Chancellor thực hiện năm 2006 chỉ ra rằng với những sinh viên đã từng tham gia các khóa học về KNS đều đạt được mức thành công trong học tập, thu nhập và các giải thưởng; tổ chức y tế thế giới (WHO) cũng dựa trên lý thuyết học tập xã hội của Bandura (1977) (lý thuyết nhấn mạnh sự học tập qua quá trình trải nghiệm của con người, qua sự tích lũy kinh nghiệm sống, cấu trúc kinh nghiệm và chủ động nắm lấy kinh nghiệm) để đưa ra cách phân loại các Kỹ năng sống thành 3 nhóm chính: kỹ năng nhận thức, kỹ năng xã hội và kỹ năng cảm xúc, tổ chức.
[26] Về kỹ năng mềm: Nhiều nước trên thế giới đã có các tổ chức và các công trình nghiên cứu với các hình thức đa dạng về kỹ năng mềm cho sinh viên và người lao động. Cụ thể: Về các kỹ năng mềm cần thiết cho người lao động: Cục Phát triển lao động Singapore đã đưa ra 10 KNM: viết và tính toán, sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông, giải quyết vấn đề và ra quyết định, sáng tạo và mạo hiểm, giao tiếp và quản lý mối quan hệ, học tập suốt đời, tư duy mở toàn cầu, quản lý bản thân, tổ chức công việc và an toàn lao động, vệ sinh sức khỏe. 2] Vào đầu những năm 1990, Hiệp hội Đào tạo và Phát triển Mỹ (The American Society of Training and Development), có thành viên đến từ hơn 100 quốc gia đã thực hiện một cuộc nghiên cứu (theo đơn đặt hàng của Bộ lao động Hoa Kỳ) về các kỹ năng cơ bản trong công việc. Kết luận được đưa ra là có 13 kỹ năng cơ bản cần thiết để thành công trong công việc: KN học và tự học, KN lắng nghe, KN thuyết trình và nói trước công chúng, KN giải quyết vấn đề, KN tư duy sáng tạo, KN quản lý bản thân và tinh thần tự tôn, KN đặt mục tiêu, KN phát triển cá nhân và sự nghiệp, KN giao tiếp ứng xử và tạo lập quan hệ, KN làm việc đồng đội, KN đàm phán, KN tổ chức công việc hiệu quả, KN lãnh đạo bản thân.
2] 2 Tác phẩm “Kỹ năng hành nghề cho tương lai” (năm 2002) của Bộ Giáo dục, Đào tạo và Khoa học Úc giới thiệu nhóm các kỹ năng và kiến thức mà người sử dụng lao động yêu cầu bắt buộc phải có gồm có 8 kỹ năng như: KN giao tiếp, KN làm việc đồng đội, KN giải quyết vấn đề, KN sáng tạo và mạo hiểm, KN lập kế hoạch và tổ chức công việc, KN quản lý bản thân, KN học tập, KN công nghệ. 3] Bộ Phát triển Nguồn Nhân lực và Kỹ năng Canada có những nghiên cứu để đưa ra danh sách các kỹ năng mềm cần thiết đối với người lao động thế kỷ 21 như: KN giao tiếp, KN giải quyết vấn đề, KN tư duy và hành vi tích cực, KN thích ứng, KN làm việc với con người, KN nghiên cứu khoa học, công nghệ và toán. 3] Cơ quan chứng nhận chương trình và tiêu chuẩn của Anh cũng đưa ra danh sách các kỹ năng quan trọng bao gồm: KN tính toán, KN giao tiếp, KN tự học và nâng cao năng lực cá nhân, KN sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông, KN giải quyết vấn đề, KN làm việc với con người. [29, tr 3] Cục phát triển lao động WDA của Singapore đã thiết lập hệ thống các kỹ năng hành nghề ESS (Singapore Employability Skills System) gồm 10 kỹ năng: KN công sở và tính toán, KN sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông, KN giải quyết vấn đề và ra quyết định, KN sáng tạo và mạo hiểm, KN giao tiếp và quản lý quan hệ, KN học tập suốt đời, KN tư duy mở toàn cầu, KN tự quản lý bản thân, KN tổ chức công việc, KN an toàn lao động và vệ sinh sức khỏe.
3] Những nghiên cứu về hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên: Ở Bồ Đào Nha, năm 2007, Artur Ferreira da Silva, José Tribolet, GV trường ĐH Kỹ thuật Lisbon đã trình bày tham luận Developing soft skills in engineering studies – The experience of students’personal portfolio tại hội nghị quốc tế về giáo dục kỹ thuật. Trong bài viết, tác giả đã trình bày kinh nghiệm thực tế trong 15 năm (tập trung vào 6 học kỳ) đào tạo kỹ năng mềm cho sinh viên kỹ thuật thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp và các buổi thực hành trong chương trình mang tên "Personal Portfolio"[26, tr. Bài viết cho thấy những hiệu quả của hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên thông qua việc cung cấp cho các em những cơ hội trải nghiệm thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp. Người nghiên cứu cho rằng 3 bài viết có những đóng góp tích cực đối với hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên ở các trường đại học, bởi đã khẳng định hiệu quả của con đường giáo dục kỹ năng mềm thông qua các hoạt động trải nghiệm ngoài giờ lên lớp.
Bài viết Teaching Soft Skills to Engineers của Susan H.Pulko và Samir Parikh đăng trên International Journal of Electrical Engineering Education. Hai tác giả đề cập đến một số phương pháp giảng dạy kỹ năng mềm cho SV khối kỹ thuật như: dạy học nhóm, động não, mô phỏng. Các tác giả đã nhấn mạnh vai trò của người giáo viên và các phương pháp dạy học ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên, giảng viên đồng thời cũng là tấm gương để sinh viên học tập noi theo. Bài viết “The Importance of Soft Skill: Education beyond academic knowledge” (Tầm quan trọng của kỹ năng mềm: học thức nằm ngoài kiến thức giáo khoa) của Bernd Schulz (2008) đã bàn khái niệm kỹ năng mềm và tầm quan trọng của nó đối với sinh viên cả trong và ngoài trường học.
Tác giả khuyến khích các nhà giáo dục có trách nhiệm hơn đối với việc giáo dục kỹ năng mềm, vì trong cuộc sống sinh viên, các nhà giáo dục chính là tấm gương, là người có trách nhiệm rèn luyện và uốn nắn họ. Kết hợp giáo dục kỹ năng mềm với các khóa học chuyên ngành trong trường đại học là một cách hiệu quả và hợp lý nhằm tạo ra một phương pháp giảng dạy vừa hấp dẫn về nội dung, vừa nâng cao kỹ năng mềm. [38] Chính phủ Úc đưa ra bản báo cáo “Kỹ năng của người Úc”. Bản báo cáo là sự đúc kết những tài liệu tham khảo về các kỹ năng, từ việc tại sao cần có những kỹ năng, phải rèn luyện như thế nào để có được các kỹ năng và lý do tại sao cá nhân và quốc gia sẽ có được những lợi ích to lớn nếu lực lượng lao động có kỹ năng và tay nghề cao, đồng thời đề cập đến vấn đề cải cách chương trình đào tạo kỹ năng mềm.
[11] Bài viết Soft skills at the Malaysian institutes of higher learning của tác giả Roselina Shakir giới thiệu 7 kỹ năng mềm và cách kết hợp những kỹ năng này trong chương trình đào tạo ở các trường đại học Malaysia. Viện đại học Malaysia đề nghị các trường đại học của Malaysia thực hiện chương trình khung, những trường đại học 4 này cũng được phép thay đổi và bổ sung thêm trong các khía cạnh thực hiện. Bài viết cũng chỉ ra rằng không phải là một nhiệm vụ dễ dàng để phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên trong thời gian học đại học khi họ đã trải qua thời gian tiếp xúc với phong cách học vẹt và hệ thống giáo dục theo định hướng kiểm tra trong những năm phổ thông. Do đó tích hợp các yếu tố kỹ năng mềm khi thiết kế các chương trình giảng dạy (mô hình nhúng) có thể sẽ là một giải pháp tốt hơn.
Cùng với điều này, tất cả các trường đại học công ở Malaysia đã được hướng dẫn để xem xét chương trình đào tạo hiện có của họ, nơi kỹ năng mềm phải được phản ánh qua mỗi thiết kế khóa học. [36] Đây là mô hình giáo dục kỹ năng mềm có thể được thực hiện và nhân rộng cho các trường đại học khác ở Việt Nam.