CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC THÔNG QUA TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG CỘNG ĐỒNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Ở các nước phát triển họ đã sớm nhận ra được tầm quan trọng của việc rèn luyện kỹ năng mềm, không những vậy họ đã nghiên cứu và đưa ra những kỹ năng mềm phù hợp với sự phát triển, nhu cầu của xã hội. Có thể kể đến một số quốc gia như sau: Tại Mỹ, Bộ Lao động Mỹ (The U.
Department of Labor) cùng Hiệp hội Đào tạo và Phát triển Mỹ (The American Society of Training and Development) gần đây đã thực hiện một cuộc nghiên cứu về các kỹ năng cơ bản trong công việc. Kết luận được đưa ra là có 13 kỹ năng cơ bản cần thiết để thành công trong công việc: 1. Kỹ năng học và tự học (learning to learn) 2. Kỹ năng lắng nghe (listening skills) 3.
Kỹ năng thuyết trình (oral communication skills) 4. Kỹ năng giải quyết vấn đề (problem solving skills) 5. Kỹ năng tư duy sáng tạo (creative thinkings skills) 6. Kỹ năng quản lý bản thân và tinh thần tự tôn (self esteem) 7.
Kỹ năng đặt mục tiêu/tạo động lực làm việc (goal setting/motivation skills) 8. Kỹ năng phát triển cá nhân và sự nghiệp (Personal and career development skills) 9. Kỹ năng giao tiếp ứng xử và tạo lập quan hệ (interpersonal skills) 6 10. Kỹ năng làm việc đồng đội (teamwork) 11.
Kỹ năng đàm phán (negotiation skills) 12. Kỹ năng tổ chức công việc hiệu quả (organizational effectiveness) 13. Kỹ năng lãnh đạo bản thân (leadership skills) Năm 1989, Bộ Lao động Mỹ cũng thành lập một Ủy ban Thư ký về Rèn luyện các kỹ năng cần thiết (The Secretary’s Commission on Achieving Necessary Skills – SCANS). Thành viên của ủy ban này đến từ nhiều lĩnh vực khác nhau như giáo dục, kinh doanh, doanh nhân, người lao động, công chức… nhằm mục đích “thúc đẩy nền kinh tế bằng nguồn lao động kỹ năng cao và công việc thu nhập cao”.
Tại Úc, Hội đồng Kinh doanh Úc (The Business Council of Australia – BCA) và Phòng thương mại và công nghiệp Úc (the Australian Chamber of Commerce and Industry – ACCI) với sự bảo trợ của Bộ Giáo dục, Đào tạo và Khoa học (the Deparment of Education, Science and Training – DEST) và Hội đồng giáo dục quốc gia Úc (the Autralian National Training Authority – ANTA) đã xuất bản cuốn “Kỹ năng hành nghề cho tương lai” (năm 2002). Cuốn sách cho thấy các kỹ năng và kiến thức mà người sử dụng lao động yêu cầu bắt buộc phải có. Kỹ năng hành nghề (employability skills) là các kỹ năng cần thiết không chỉ để có được việc làm mà còn để tiến bộ trong tổ chức thông qua việc phát huy tiềm năng cá nhân và đóng góp vào định hướng chiến lược của tổ chức. Các kỹ năng hành nghề bao gồm có 08 lỹ năng như sau: 1.
Kỹ năng giao tiếp (communication skills) 2. Kỹ năng làm việc đồng đội (teamwork skills) 3. Kỹ năng giải quyết vấn đề (problem solving skills) 4. Kỹ năng sáng tạo và mạo hiểm (initiative and enterprise skills) 7 5.
Kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức công việc (planning and organising skills) 6. Kỹ năng quản lý bản thân (Self – management skills) 7. Kỹ năng học tập (learning skills) 8. Kỹ năng công nghệ (technology skills) Chính phủ Canada cũng có một Bộ phụ trách về việc phát triển kỹ năng cho người lao động.
Bộ Phát triển Nguồn nhân lực và Kỹ năng Canada (Human Resources and Skills Development Canada – HRSDC) có nhiệm vụ xây dựng nguồn nhân lực mạnh và có khả năng cạnh tranh, giúp người Canada nâng cao chất lượng cuộc sống. Bộ này cũng có những nghiên cứu để đưa ra danh sách các kỹ năng cần thiết đối với người lao động. Conference Board of Canada là một tổ chức phi lợi nhuận của Canada dành riêng cho nghiên cứu và phân tích các xu hướng kinh tế, cũng như năng lực hoạt động các tổ chức và các vấn đề chính sách cộng đồng. Tổ chức này cũng đã có nghiên cứu và đưa ra danh sách các kỹ năng hành nghề cho thế kỷ 21 bao gồm các kỹ năng như: 1.
Kỹ năng giao tiếp (communication) 2. Kỹ năng giải quyết vấn đề (problem solving) 3. Kỹ năng tư duy và hành vi tích cực (positive attitudes and behaviours) 4. Kỹ năng thích ứng (adaptability) 5.
Kỹ năng nghiên cứu khoa học, công nghệ và toán (science, technology and mathematics skills) Chính phủ Anh cũng có cơ quan chuyên trách về phát triển kỹ năng cho con người lao động. Bộ Đổi mới, Đại học và Kỹ năng được chính phủ thành lập từ ngày 28/6/2007, đến tháng 6/2009 thì được ghép với Bộ Kinh tế, Doanh nghiệp và Đổi mới Pháp chế để tạo nên bộ mới là Bộ Kinh tế, Đổi mới và Kỹ năng. Bộ này chịu trách nhiệm về các vấn đề liên quan đến việc học tập của người lớn, một 8 phần của giáo dục nâng cao, kỹ năng, khoa học và đổi mới. Cơ quan chứng nhận chương trình và tiêu chuẩn (Qualification and Curriculum Authority) cũng đưa ra danh sách các kỹ năng quan trọng bao gồm: 1.
Kỹ năng tính toán (application of number) 2. Kỹ năng giao tiếp (Communication) 3. Kỹ năng tự học và nâng cao năng lực cá nhân (improving own learning and performance) 4. Kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông (information and communication technology) 5.
Kỹ năng giải quyết vấn đề (problem solving) 6. Kỹ năng làm việc với con người (working with others) Chính phủ Singapore có Cục phát triển lao động WDA (workforce Development Agency) WDA đã thiết lập hệ thống các kỹ năng hành nghề ESS (Singapore Employability Skills System) gồm các kỹ năng: 1. Kỹ năng công sở và tính toán (workplace literacy & communications technology) 2. Kỹ năng giải quyết vấn đề và đưa ra quyết định (problem solving & decision making) 3.
Kỹ năng sáng tạo và mạo hiểm (initiative & enterprise) 4. Kỹ năng giao tiếp và quản lý quan hệ (communication & relationship management) 5. Kỹ năng học tập suốt đời (lifelong learning) 6. Kỹ năng tư duy mở toàn cầu (global mindset) 7.
Kỹ năng tự quản lý bản thân (self – management) 8. Kỹ năng tổ chức công viêc (workplace – related life skills) 9 9. Kỹ năng an toàn lao động và vệ sinh sức khỏe (health & workplace safety) Có thể nhận thấy, các quốc gia phát triển ở Châu Âu, châu Mỹ lẫn châu Á đã quan tâm và đặt nhu cầu rèn luyện kỹ năng cho sinh viên lên hàng đầu. Ở Việt Nam Cụm từ “kỹ năng mềm” được nhắc đến nhiều trong thời gian gần đây cho thấy nhận thức của mọi người về tầm quan trọng của nó đã được nâng lên.
Thực tế, đã có những đề tài nghiên cứu về sự nhận thức của sinh viên và nhu cầu học của sinh viên đối với kỹ năng mềm. Có thể kể đến một số đề tài như: “Khảo sát kỹ năng mềm của sinh viên Đại học Thương mại” của nhóm sinh viên Đinh Thị Phương Liên, Đặng Thị Phương Thảo, Nguyễn Thị Lan. Đề tài tập trung đánh giá tầm quan trọng của kỹ năng mềm trong cuộc sống, trong học tập cũng như môi trường làm việc sau này của sinh viên; phân tích, đánh giá và đưa ra biện pháp phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên thương mại. Tại Hội thảo khoa học được tổ chức tại Trường đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long đại diện Trường Cao Đẳng Nghề Kiên Giang đã có bài tham luận “Thực trạng kỹ năng mềm của người lao động và học sinh, sinh viên, giải pháp và chương trình đào tạo kỹ năng mềm phù hợp”.
Tham luận nêu khái quát thực trạng chất lượng nguồn lao động Việt Nam thấp hơn so với các nước trong khu vực và thế giới, nguyên nhân chủ yếu là do thiếu kỹ năng mềm, một kỹ năng rất quan trọng trong cuộc sống và công việc. Tham luận cũng đề ra chương trình đào tạo kỹ năng mềm nhưng chương trình chưa trải qua thực nghiệm chứng minh tính hiệu quả thực tế. Ngoài ra, một số đề tài của các tác giả Lê Thị Thủy, “Giải pháp nâng cao kỹ năng mềm cho sinh viên khối kinh tế và quản trị kinh doanh ở Việt Nam trong những năm gần đây”; Lê Anh Khoa, Lê Đức Anh, Nguyễn Quốc Bình, Nguyễn Quốc Thiện, Nguyễn Minh Lợi, Nghiên cứu những trở ngại trong việc phát triển 10 kỹ năng mềm của sinh viên Đại học Kính tế Đà Nẵng cũng tập trung nghiên cứu về kỹ năng mềm nhưng dành cho sinh viên các khối ngành kinh tế. Đề tài chỉ khảo sát thực trạng và đưa ra một số biện pháp pháp phát triển kỹ năng mềm cần thiết cho sinh viên khối ngành kinh tế.
Bên cạnh những đề tài, tiểu luận, tham luận liên quan đến giáo dục, rèn luyện, phát triển kỹ năng mềm cho sinh thì cũng có những bài báo, sách viết về kỹ năng mềm như Top 10 kỹ năng mềm cho bạn trẻ của tác giả Vĩnh Thắng. Các nghiên cứu đã đánh giá được tầm quan trọng của kỹ năng mềm, của việc rèn luyện kỹ năng mềm cho sinh viên; nêu lên được thực trạng chung đó là sinh viên chưa được chú trọng quan tâm rèn luyện kỹ năng mềm và đưa ra một số giải pháp để phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên. Tuy nhiên, đa số các đề tài nghiên cứu về phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên thuộc khối ngành kinh tế. Vậy sinh viên thuộc khối ngành kỹ thuật nói chung và sinh viên của trường Đại học SPKT Vĩnh Long thì sao? Kỹ năng mềm có cần thiết với các em? Thực trạng giáo dục kỹ năng mềm như thế nào? Biện pháp cụ thể ra sao? 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Kỹ năng, kỹ năng mềm * Kỹ năng Kỹ năng là năng lực hay khả năng chuyên biệt của một cá nhân về một hoặc nhiều khía cạnh nào đó được sử dụng để giải quyết tình huống hay công việc nào đó phát sinh trong cuộc sống. Để giải thích nguồn gốc hình thành kỹ năng có lẽ không có cơ sở lý thuyết nào tốt hơn 2 lý thuyết về phản xạ có điều kiện (được hình thành trong thực tế cuộc sống cá nhân) và phản xạ không điều kiện (là những phản xạ bẩm sinh mà cá nhân sinh ra đã sẵn có). Trong đó, kỹ năng của cá nhân gần như thuộc về cái gọi là phản xạ có điều kiện, nghĩa là kỹ năng được hình thành từ khi một cá nhân sinh ra, trưởng thành và tham gia hoạt động thực tế cuộc sống.
Ví dụ: Kỹ năng giao 11 tiếp, kỹ năng quản trị chỉ được hình thành trong hoạt động công việc của một cá nhân.