CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này trình bày các khái niệm và lý thuyết có liên quan đến sự hài lòng trong công việc của nhân viên. Trong chương này cũng xem xét các nghiên cứu trước đây về sự hài lòng trong công việc và các khía cạnh ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc của nhân viên. Từ đó đề xuất được mô hình nghiên cứu và phát biểu các giả thuyết.1 Khái niệm về sự hài lòng 1.1 Sự hài lòng Có khá nhiều định nghĩa về sự hài lòng. Theo Từ điển Oxford Advanced Leaner’s Dictionary định nghĩa “Sự hài lòng” là hành động đáp ứng nhu cầu hay mong muốn nào đó.
Như vậy có thể hiểu sự hài lòng là việc nhân viên được đáp ứng nhu cầu hay mong muốn của họ khi làm việc. Theo Spector (1997) sự hài lòng công việc đơn giản là việc người ta cảm thấy thích công việc của họ và các khía cạnh công việc của họ như thế nào (trích trong Antoncic, J. Vì nó là sự đánh giá chung, nên nó là một biến về thái độ. Còn theo Ellickson và Logsdon (2001) thì cho rằng sự hài lòng công việc được định nghĩa chung là mức độ nhân viên yêu thích công việc của họ, đó là thái độ dựa trên sự nhận thức của người nhân viên (tích cực hay tiêu cực) về công việc hoặc môi trường làm việc của họ.
Nói cách khác, môi trường làm việc đáp ứng được các nhu cầu, giá trị và tính cách của người lao động thì độ hài lòng công việc càng cao. Trong khi đó, theo Smith, Kendal và Hulin (1969), sự hài lòng với công việc là thái độ ảnh hưởng, ghi nhận của nhân viên về các khía cạnh khác nhau trong công việc (bản chất công việc, cơ hội đào tạo và thăng tiến, lãnh đạo, đồng nghiệp, tiền lương) của họ. Theo Vroom (1964), sự hài lòng trong công việc thể hiện ở mức độ mà người lao động có cảm nhận, định hướng tích cực đối với công việc trong tổ chức, thực sự cảm thấy thích thú với công việc. Sự hài lòng trong công việc là trạng thái mà người lao động có định hướng hiệu quả rõ ràng đối với công việc trong tổ chức.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Kết luận của Weiss (1967), hài lòng trong công việc là thái độ về công việc được thể hiện bằng cảm nhận, niềm tin và hành vi của người lao động. Theo Schneider & Snyder (1975), cho rằng sự hài lòng trong công việc là đánh giá của cá nhân về điều kiện hiện tại và kết quả đó có được từ công việc. Theo Kusku (2003), sự hài lòng trong công việc phản ánh nhu cầu và mong muốn cá nhân được đáp ứng và mức độ cảm nhận của người lao động về công việc của họ. Sự hài lòng trong công việc đồng thời cũng được định nghĩa như là những tình cảm theo chiều hướng tích cực mà nhân viên hướng đến công việc họ đang làm (Schemerhorn, Hunt and Osborn, 1997:98).
Khi nhân viên cảm thấy hạnh phúc, vui vẻ trong công việc chúng ta có thể nói rằng anh ta hài lòng với công việc. Theo Schemerhorn (1993) được trích dẫn bởi Luddy (2005), sự hài lòng trong công việc được định nghĩa là sự phản ứng về mặt tình cảm và cảm xúc đối với các khía cạnh khác nhau trong công việc của nhân viên. Tại Việt Nam, Nguyễn Hữu Lam (2007) trong quyển sách “Hành vi tổ chức” cho rằng sự hài lòng đối với công việc là thái độ chung của một cá nhân đối với công việc của cá nhân đó. Theo Trần Kim Dung (2005) trong đề tài nghiên cứu cấp Bộ, sự hài lòng đối với công việc được định nghĩa và đo lường theo 2 khía cạnh: hài lòng nói chung đối với công việc và hài lòng theo các yếu tố thành phần của công việc.
Sự hài lòng nói chung của con người là cảm giác khi họ hài lòng, hạnh phúc về những nhu cầu mà họ đặt ra và đạt được nhờ sự tác động của bản thân, các yếu tố khách quan, chủ quan khác. Sự hài lòng đối với công việc bao gồm những nhu cầu của con người đạt được thông qua sự tác động và ảnh hưởng của các yếu tố trong môi trường làm việc. Có thể thấy có rất nhiều định nghĩa khác nhau về sự hài lòng trong công việc của nhân viên, dựa vào nghiên cứu của Smith như sự hài lòng với công việc là thái độ ảnh hưởng, ghi nhận của nhân viên về các khía cạnh khác nhau trong công việc (bản chất công việc, cơ hội đào tạo và thăng tiến, lãnh đạo, đồng nghiệp, tiền lương) hay nghiên cứu của Trần Kim Dung như sự hài lòng đối với công việc bao gồm những nhu cầu của con người đạt được thông qua sự tác động và ảnh hưởng của các TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 yếu tố trong môi trường làm việc, tác giả lý giải và đi sâu phân tích sự hài lòng trong công việc của nhân viên dưới sự tác động của các yếu tố như: bản chất công việc, cơ hội đào tạo và thăng tiến, lãnh đạo, đồng nghiệp, tiền lương, phúc lợi và điều kiện làm việc. Nghiên cứu này tác giả sử dụng thang đo chỉ số mô tả công việc (Job Descriptive Index – JDI) do Smith, Kendall, Hulin (1969) thiết lập và được tái bản vào năm 1985, 1997 và 2009; vì JDI được đánh giá cao trong cả lĩnh vực nghiên cứu lẫn thực tiễn.
JDI đã được hơn 1000 tổ chức sử dụng trong nhiều lĩnh vực. Nghiên cứu sử dụng 7 nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc của Smith và nội dụng chính như sau: 1.2 Bản chất công việc Bản chất công việc liên quan đến những thách thức của công việc, cơ hội để sử dụng các năng lực cá nhân và cảm nhận thú vị khi thực hiện công việc. Hiện tại đây là một yếu tố quan trọng và hàng đầu của nhân viên khi lựa chọn một công việc, vì hơn 1/3 thời gian trong ngày người nhân viên dành cho công việc, nơi làm việc nên họ lựa chọn yếu tố này kỹ để có thể làm lâu dài. Bản chất công việc là yếu tố quan trọng khi lựa chọn công việc của người lao động.
Công việc phù hợp, thoải mái sẽ tạo cho con người sự yêu thích, sự hài lòng sẽ ngăn cản nhân viên tìm kiếm các cơ hội khác, khi nhân viên hài lòng với công việc thì sẽ làm việc hiệu quả hơn. Các thành phần sau của bản chất công việc sẽ được xem xét gồm: - Công việc cho phép sử dụng tốt các năng lực cá nhân; - Công việc rất thú vị; - Công việc có nhiều thách thức; - Cơ sở vật chất và phương tiện làm việc.3 Cơ hội đào tạo và thăng tiến Cơ hội đào tạo và thăng tiến liên quan đến nhận thức của nhân viên về các cơ hội được đào tạo, phát triển các năng lực cá nhân và các cơ hội được thăng tiến trong tổ chức. Một số nhà nghiên cứu cho rằng cơ hội thăng tiến có liên hệ chặt chẽ với sự hài lòng công việc của nhân viên (Smith và cộng sự, 1969; Ellickson, 2002). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Theo Maslow (1954), có năm loại nhu cầu của một cá nhân là nhu cầu sinh lí, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu thể hiện.
Cơ hội thăng tiến liên quan đến những nhu cầu này, những nhân viên mà có cơ hội thăng tiến tốt hơn sẽ thỏa mãn tốt nhu cầu của mình hơn. Trong các nghiên cứu tại Việt Nam (Trần Kim Dung, 2005) yếu tố cơ hội thăng tiến được xem xét dưới các khía cạnh như: tính liên quan đến nhận thức của nhân viên về cơ hội được đào tạo, phát triển các năng lực cá nhân và cơ hội được thăng tiến trong tổ chức. Các thành phần về cơ hội đào tạo và thăng tiến được xem xét bao gồm: - Chương trình đào tạo của công ty có hiệu quả tốt; - Chính sách thăng tiến của công ty công bằng, hợp lý; - Công ty thường xuyên nâng cao trình độ cho cán bộ nhân viên.4 Lãnh đạo Lãnh đạo liên quan đến các mối quan hệ giữa nhân viên và lãnh đạo cấp trên trực tiếp; sự hỗ trợ của cấp trên; phong cách lãnh đạo và khả năng của lãnh đạo thực hiện các chức năng của quản trị trong tổ chức. Lãnh đạo là người giám sát và theo dõi công việc của nhân viên thường xuyên, cũng là người quyết định cũng như ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp về sau của NLĐ.
Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng, chất lượng của mối quan hệ lãnh đạo – nhân viên có tác động tích cực đến sự hài lòng công việc của nhân viên. Ting (1997) đã nghiên cứu trên những nhân viên chính phủ liên bang Mỹ và thấy rằng những nhân viên hài lòng hơn với công việc của họ nếu họ có mối quan hệ tốt với lãnh đạo. Các thành phần về lãnh đạo được xem xét bao gồm: - Cán bộ lãnh đạo gương mẫu; - Cán bộ có lời nói và việc làm song hành; - Sự tin tưởng đối với lãnh đạo; - Sự hỗ trợ của cấp trên khi cần thiết.5 Đồng nghiệp Là những cảm nhận liên quan đến các hành vi, quan hệ với đồng nghiệp trong công việc tại nơi làm việc, sự phối hợp và giúp đỡ lẫn nhau trong công việc với các đồng nghiệp. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Đồng nghiệp trong công ty là người mà nhân viên tiếp xúc thường xuyên, cùng phối hợp làm việc.
Xu hướng hiện này là làm việc nhóm, cần sự phối hợp của nhiều người có thể nâng cao hiệu suất, giải quyết được những công việc khó và quy mô lớn. Theo Kreitner & Kinichi (2001), mối quan hệ thân thiện và hỗ trợ từ đồng nghiệp làm gia tăng sự hài lòng trong công việc. Moon & Maxwell (2004) cho rằng sự tương tác tiêu cực với đồng nghiệp làm giảm sự hài lòng trong công việc của nhân viên. Các thành phần về đồng nghiệp được xem xét bao gồm: - Đồng nghiệp thoải mái và dễ chịu; - Có tinh thần đồng đội; - Sẵn sàng giúp đỡ nhau; - Có sự nhất trí cao.6 Tiền lương, thưởng Sự hài lòng về tiền lương liên quan đến cảm nhận của nhân viên về tính công bằng trong trả lương.
Tiền lương đã từng là mối quan tâm lớn của NLĐ trước kia nhưng hiện nay nó vẫn còn giữ vai trò quan trọng trong việc lựa chọn công việc. NLĐ cần cung cấp nguồn sống của họ từ tiền lương, chế độ lương, thưởng cũng chiếm sự quan tâm của NLĐ; họ cần có sự công bằng, tương xứng với công sức nhân viên bỏ ra để hoàn thành công việc của họ; cũng là một trong những yếu tố để tiếp tục hoặc rời bỏ công ty.