Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP NỘI BỘ CÔNG TY 1. Khái niệm tranh chấp nội bộ công ty 1. Khái niệm quan hệ nội bộ công ty Khoản 1, điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005 (LDN 2005) định nghĩa: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Khoản 3 Điều 29 Bộ luật Tố tụng 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Dân sự 2004 (Bộ luật tố tụng dân sự số 24/2004/QH11 ngày 15 tháng 6 năm 2004 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2005, được sửa đổi, bổ sung bởi: Luật số 65/2011/QH12 ngày 29 tháng 3 năm 2011 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2012, được hợp nhất bằng văn bản hợp nhất số 02/VBHN-VPCP ngày 20/03/2013 của Văn phòng Chính phủ) (BLTTDS) quy định: “Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty”.
Pháp luật hiện hành không giải thích cụ thể khái niệm về thành viên công ty. LDN 2005 chỉ nêu ra một số khái niệm có liên quan như sau: Thành viên sáng lập là người, tổ chức góp vốn, tham gia xây dựng, thông qua và ký tên vào bản điều lệ đầu tiên của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh. Cổ đông là người, tổ chức sở hữu ít nhất một cổ phần đã phát hành của công ty cổ phần. Người quản lý doanh nghiệp là chủ sở hữu, giám đốc doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh công ty hợp danh, chủ tịch hội đồng thành viên, chủ tịch công ty, thành viên hội đồng quản trị, giám đốc hoặc tổng giám đốc và các chức danh quản lý khác do điều lệ công ty quy định.
Thành viên hợp danh là thành viên chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty hợp danh. Thành viên công ty trong hình thức Công ty trách nhiệm hữu hạn (Công ty TNHH) có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Đối với hình thức Công ty TNHH Hai thành viên trở lên, thành viên công ty bao gồm: hội đồng thành viên; người quản lý doanh nghiệp; trong trường hợp có từ 11 thành viên trở lên phải có ban kiểm soát [31, Mục 1, Chương III]. Đối với hình thức Công ty TNHH Một thành viên, thành viên công ty có thể là cá nhân, tổ chức bao gồm: chủ sở 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hữu công ty; người quản lý doanh nghiệp; kiểm soát viên [31, Mục 2, Chương III].
Thành viên công ty trong hình thức Công ty Cổ phần (Công ty CP) có thể là cá nhân, tổ chức được xác định bao gồm: đại hội đồng cổ đông; hội đồng quản trị; người quản lý doanh nghiệp; ban kiểm soát [31, Chương IV]. Thành viên Công ty hợp danh phải là cá nhân trong trường hợp là thành viên hợp danh, về thành viên góp vốn LDN 2005 không quy định cụ thể vì vậy có thể hiểu là thành viên góp vốn là cá nhân hoặc tổ chức. Trong điều hành hoạt động kinh doanh của công ty, thành viên hợp danh phân công nhau đảm nhiệm các chức danh quản lý và kiểm soát công ty, chủ tịch hội đồng thành viên. Hội đồng thành viên do tất cả thành viên hợp lại và bầu một thành viên hợp danh làm chủ tịch hội đồng thành viên.
Vậy, có thể xác định thành viên của Công ty hợp danh bao gồm: thành viên hợp danh; thành viên góp vốn [31, Chương V]. Vậy, nội bộ công ty có thể hiểu là các thành viên trong công ty như đã thống kê ở trên. Có một chủ thể cần xem xét đến là người quản lý công ty, dưới góc độ pháp lý họ là người được các chủ sở hữu công ty ủy quyền để đại diện công ty thực hiện công tác quản lý điều hành công ty.Có thể xếp người quản lý công ty vào thành viên công ty, tuy nhiên ở các quan hệ có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quản lý ví dụ như thuê giám đốc làm đại diện cho công ty theo pháp luật và giám đốc này không phải là chủ sở hữu, thành viên góp vốn và các tranh chấp liên quan đến lợi ích cá nhân của người quản lý công ty, theo quan điểm của tác giả đây là các tranh chấp khác, không phải là tranh chấp nội bộ công ty. Mối quan hệ của người quản lý công ty với thành viên công ty và công ty ngoại trừ trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc là người sở hữu toàn bộ tài sản của công ty luôn tiềm ẩn mâu thuẫn giữa nhà đầu tư và người quản lý bởi vì lợi ích của hai chủ thể này khác nhau, thậm chí 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đối nghịch nhau trong một số trường hợp.
Ví dụ, chủ sở hữu công ty luôn hướng đến công ty hoạt động hiệu quả, có lãi tuy nhiên người quản lý công ty không chịu rủi ro tài chính lớn nếu công ty thua lỗ và không có lợi ích cuối cùng khi công ty có lãi. Xung đột hoàn toàn có thể xảy ra do sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quản lý này. Tóm lại, pháp luật hiện hành không đưa ra một khái niệm rõ ràng về quan hệ nội bộ công ty, thông qua quá trình nghiên cứu ở trên, có thể hiểuquan hệnội bộ công ty là mối quan hệ giữa các thành viên trong công ty,các cơ quan quản lý trong công ty với nhau, giữa công ty với thành viên công ty, giữa thành viên công ty với người quản lý công ty trong quá trình thành lập, hoạt động, chấm dứt hoạt động của công ty. Cơ quan quản lý công ty, trong Công ty CP cơ quan quản lý công ty là Chủ tịch HĐQT, HĐQT, Đại hội đồng cổ đông(ĐHĐCĐ), Giám đốc và các Cơ quan tương ứng trong Công ty TNHH, công ty Hợp danh.
Khái niệm tranh chấp nội bộ công ty Theo từ điển tiếng Việt, tranh chấp là việc giành nhau một cách giằng co, không rõ thuộc về bên nào. Cũng có thể hiểu tranh chấp là sự đấu tranh giằng co khi có ý kiến bất đồng, thường là trong vấn đề quyền lợi giữa các bên[23, tr. Dưới góc độ khoa học pháp lý, có thể hiểu tranh chấp là những mâu thuẫn, bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể trong cùng một quan hệ pháp luật nhất định. Tranh chấp nội bộ công ty được xếp vào những tranh chấp kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án [34, Điều 29].
Tuy nhiên, khái niệm về tranh chấp kinh doanh, thương mại chưa có sự thống nhất về cách dùng. Theo LDN 2005, kinh doanh được hiểu là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi [34, Khoản 2, Điều 4]. Vậy có thể hiểu tranh chấp kinh doanh là các mâu thuẫn, bất đồng về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Theo Luật Thương mại 2005 (LTM 2005), hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.
Chủ thể của hoạt động thương mại là thương nhân [32, Khoản 1, Điều 3]. Vì vậy có thể hiểu tranh chấp thương mại là các mâu thuẫn, bất đồng về quyền và nghĩa vụ của các thương nhân khi tham gia vào hoạt động thương mại. Xét dưới góc độ pháp lý, thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh [32, Khoản 1, Điều 6], doanh nghiệp là vỏ bọc pháp lý của thương nhân thành các hình thức tổ chức được quy định tại LDN 2005 và chỉ là một bộ phận nằm trong khái niệm thương nhân. Xét về bản chất, kinh doanh và hoạt động thương mại cùng nhằm đến mục đích kiếm lời.
Tất cả các hoạt động trên thương trường để sinh lời đều có thể hiểu là kinh doanh, thương mại. Vì vậy trong nhiều văn bản, thuật ngữ kinh doanh, thương mại có thể đứng cạnh nhau, thậm chí có thể thay thế cho nhau trong nhiều ngữ cảnh. Tranh chấp kinh doanh, tranh chấp thương mại cũng có thể hiểu tương tự như trên. Vì công ty là một chủ thể kinh doanh được tạo nên bởi việc đầu tư của một hoặc nhiều thành viên dưới một vỏ bọc pháp lý là các hình thức doanh nghiệp nên trong suốt quá trình thành lập, hoạt động và chấm dứt hoạt động của mình, quan hệ nội bộ công ty có khả năng nảy sinh ra các mâu thuẫn về lợi ích kinh tế, về quyền và nghĩa vụ của giữa mối quan hệ nội bộ công ty.
Những mâu thuẫn này bộc lộ ra bên ngoài là 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những tranh chấp nội bộ công ty và về bản chất nó là sự bất đồng, mâu thuẫn về các lợi ích kinh tế giữa chủ thể phát sinh trong quan hệ kinh doanh, do không có sự tách biệt rõ ràng về khái niệm tranh chấp kinh doanh và tranh chấp thương mại nêntrong quá trình nghiên cứu về tranh chấp nội bộ công ty, tác giả đặt tranh chấp nội bộ công ty là tranh chấp kinh doanh, thương mại nói chung. Mối quan hệ giữa các thành viên công ty với nhau thường phát sinh từ các mâu thuẫn, xung đột lợi ích trong quá trình góp vốn, các thành viên góp vốn dịch chuyển quyền sở hữu phần vốn góp của mình vào công ty, hoàn thành việc góp vốn vào công ty bằng tài sản để được hưởng quy chế thành viên công ty. Có thể nhận thấy rằng, không phải tất cả các thành viên trong một công ty đều có quyền lợi như nhau, đều có khả năng chi phối, tham gia hoạt động quản lý, kiểm soát công ty giống nhau.