Chương 1: Khái quát chung về tranh chấp lao động và giải quyết tranh chấp lao động bằng trọng tài Chương 2: Thực trạng pháp luật giải quyết tranh chấp lao động bằng trọng tài ở Việt Nam Chương 3: Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp lao động thông qua phương thức trọng tài ở Việt Nam 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRANH CHẤP LAO ĐỘNG VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG BẰNG TRỌNG TÀI 1.1 Tranh chấp lao động 1.1 Khái niệm tranh chấp lao động Trong mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động luôn tiềm ẩn những nguyên nhân dẫn đến những tranh chấp bởi khách thể của quan hệ lao động chính là sức lao động, một loại hàng hóa đặc biệt. Cũng giống như các quan hệ mua bán, trao đổi khác, người “mua” hàng hóa (người sử dụng lao động) luôn mong muốn mua được hàng hóa tốt nhất với giá rẻ nhất, còn người bán lại muốn bán hàng hóa với giá cả cao nhất. Hàng hóa “sức lao động” đặc biệt ở chỗ, khi “mua” nó, người sử dụng lao động luôn có xu hướng khai thác tối đa người lao động với mức tiền lương thấp nhất có thể, còn người “bán” (người lao động) luôn muốn được “bán” sức lao động của mình với giá cao nhất trong điều kiện được nghỉ ngơi nhiều nhất. Quan hệ lao động là quan hệ dựa trên sự tự nguyện thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động.
Nhưng trong quan hệ đó, mỗi bên đều có những lợi ích riêng không giống nhau, thậm chí có thể trái ngược nhau, vì vậy khó có thể tránh khỏi những bất động giữa các bên, đặc biệt khi có sự vi phạm về quyền và không hài hòa về lợi ích. Pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới đều đưa ra khái niệm về giải quyết tranh chấp lao động và định ra cơ chế để giải quyết tranh chấp lao động. Song mỗi quốc gia có những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội khác nhau, nên quan niệm về tranh chấp lao động cũng có sự khác nhau. Luật quan hệ quản lý lao động (năm 1947) của Mỹ định nghĩa tranh chấp lao động bao gồm bất kỳ vụ tranh cãi nào liên quan đến các điều khoản, 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thời hạn hoặc điều kiện tuyển dụng hoặc liên quan đến tổ chức hoặc đại diện của những cá nhân trong thương lượng, tổ chức, duy trì, thay đổi hoặc cố gắng thỏa thuận các điều khoản hoặc điều kiện tuyển dụng, bất kể là người tranh cãi có quan hệ gần với người sử dụng lao động và người lao động[4,tr167].
Luật Quan hệ lao động của Indonesia (năm 2004), Điều 1 định nghĩa tranh chấp lao động là sự khác biệt về quan điểm dẫn tới tranh chấp giữa người sử dụng lao động hoặc một hiệp hội người sử dụng lao động với người lao động hoặc công đoàn do sự bất đồng về quyền, xung đột về lợi ích tranh chấp về chấm dứt việc làm, hay tranh chấp giữa các công đoàn trong một doanh nghiệp [37] Trong đạo luật về quan hệ công nghiệp năm 1967 của Malaysia định nghĩa về tranh chấp lao động như sau: Tranh chấp lao động là bất kỳ một sự tranh chấp nào giữa người sử dụng lao động và công nhân của người đó mà có liên quan đến việc sử dụng lao động hay những điều kiện làm việc của bất kỳ một công nhân nào kể trên[36]. Định nghĩa này đã chỉ ra được các chủ thể tham gia vào quan hệ lao động và phân định các lĩnh vực tranh chấp lao động phát sinh nhưng lại khó phân biệt tranh chấp lao động với các loại tranh chấp khác Khái niệm tranh chấp lao động cũng được nhắc đến tại Điều 249 Bộ luật lao động của Việt Nam Cộng Hòa do Quốc Trưởng Bảo Đại ban hành tại sắc dụ số 15 năm 1952: Tranh chấp lao động cá nhân (cá nhân phân tranh) là tranh chấp xảy ra giữa chủ nhân và cá nhân trong khi thi hành khế ước lao động. Còn tranh chấp lao động tập thể (cộng đồng phân tranh) là các cuộc phân tranh giữa chủ nhân và ít nhất 10 thuộc viên hoặc thợ thuyền của họ, bất kể hai bên có quốc tịch nào nhưng có điều kiện này là cuộc phân tranh gồm ít nhất một phần tư thành viên hay thợ thuyền được dùng trong một xí nghiệp để 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com làm những công việc cùng loại. Danh từ cũng chỉ không kể tỷ lệ một phần tư trên đây, các vụ phân tranh có ít nhất mười thành viên mà cuộc đình công một lượt của họ làm nhưng trệ sự hoạt động của toàn bộ hay một phần xí nghiệp.
Định nghĩa này chưa đưa ra được khái niệm chung về tranh chấp lao động. Trong định nghĩa về tranh chấp lao động cá nhân chỉ giới hạn phạm vi tranh chấp trong việc thực thi khế ước, tức là chỉ trong quá trình thực hiện hợp đồng. Bộ luật lao động (đã sửa đổi, bổ sung năm 2006) đã đưa ra định nghĩa về tranh chấp lao động như sau: tranh chấp lao động là những tranh chấp về quyền và lợi ích phát sinh trong quan hệ lao động giữa người lao động, tập thể lao động với người sử dụng lao động. Và Bộ luật lao động được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 18/6/2012 đưa ra định nghĩa: tranh chấp lao động là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các bên trong quan hệ lao động.
Định nghĩa này đã bao quát rộng hơn so với khái niệm trong bộ luật trước đó. Như vậy, có thể thấy tranh chấp lao động không chỉ đơn thuần là tranh chấp về việc làm mà còn liên quan đến quá trình xác lập, duy trì và chấm dứt mối quan hệ lao động giữa người lao động, tập thể người lao động và người sử dụng lao động. Ngoài ra tranh chấp lao động còn bao gồm cả các xung đột liên quan đến việc làm, học nghề, đại diện người lao động… Tuy nhiên, tranh chấp lao động phát sinh khi những xung đột, bất đồng không thể dùng hòa được, các bên từ chối thương lượng hoặc đã thương lượng nhưng không giải quyết được và một trong các bên yêu cầu một tổ chức có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Qua nghiên cứu khái niệm tranh chấp lao động có thể thấy tranh chấp lao động có những đặc điểm sau: - Về chủ thể của tranh chấp lao động: Chủ thể của tranh chấp lao động bao gồm người lao động, tập thể người lao động, đại diện của người lao động, 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người sử dụng lao động, đại diện của người sử dụng lao động.
Quy mô và mức độ tham gia các chủ thể có thể làm thay đổi cơ bản tính chất và mức độ của tranh chấp. Nếu tranh chấp liên quan đến quyền và lợi ích của tập thể người lao động thì đó là tranh chấp tập thể. Tranh chấp lao động chỉ liên quan đến quyền lợi của một hoặc một nhóm người, nhưng giữa họ không có sự liên kết với nhau trong một đơn vị sử dụng lao động thì đó là tranh chấp cá nhân. Trong tranh chấp lao động còn có sự tham gia của một chủ thể đặc biệt đó là tổ chức Công đoàn.
Trong quan hệ lao động, người sử dụng lao động có đầy đủ điều kiện về vốn, vật tư, công nghệ, kỹ thuật, khả năng kinh doanh, ngược lại người lao động chỉ có duy nhất một thứ đó chính là sức lao động của mình. Vì vậy, người lao động thường ở vị thế yếu hơn so với người sử dụng lao động. Hơn nữa, sức lao động là một loại hàng hóa đặc biệt, khác hẳn với các loại hàng hòa khác là khi sử dụng nó tạo ra một giá trị lớn hơn giá trị ban đầu, chính điều này càng nảy sinh sự bóc lột của những người “mua” nó. Để hạn chế sự bóc lột này, tổ chức công đoàn do những người lao động tự nguyện lập ra nhằm mục đích thay họ bảo vệ những quyền và lợi ích chính đáng bị xâm hại.
Vai trò đặc biệt của tổ chức công đoàn còn thể hiện ở chỗ: Công đoàn có thể khởi xướng một tranh chấp lao động và tham gia với tư cách là một chủ thể độc lập trong tranh chấp đó. - Về đối tượng của tranh chấp lao động: tranh chấp lao động thường phát sinh từ việc thực hiện quyền và lợi ích của các bên chủ thể trong quan hệ lao động. Như vậy đối tượng của tranh chấp lao động chính là những giá trị vật chất, tinh thần gắn liền với quan hệ lao động. Tranh chấp lao động có thể phát sinh ngay cả khi có hoặc không có vi phạm pháp luật lao động.
Xuất phát từ bản chất của quan hệ lao động là tự do thương lượng nên khi tham gia vào quan hệ lao động các bên cùng nhau thỏa thuận các vấn đề có liên quan đến quá trình lao động trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng nhằm bảo 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đảm cho hai bên cùng có lợi và tạo ra các điều kiện để các bên có thể thực hiện tốt nghĩa vụ của mình đối với bên kia. Với ý nghĩa như vậy, pháp luật lao động chỉ đưa ra các tiêu chuẩn, chuẩn mực, những đường biên cho hai bên thỏa thuận, còn những vấn đề cụ thể các bên có quyền thỏa thuận và ghi vào thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động. Khi trong quá trình thực hiện nếu có một bên vi phạm những quy định đã được ghi nhận trong hợp đồng, thỏa ước lao động tập thể hoặc các quy định trong luật lao động thì sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích của bên kia dẫn đến tranh chấp lao động. Trong quá trình thực hiện quan hệ lao động, với các điều kiện thực tế, đặc biệt trong điều kiện kinh tế thị trường dưới sự tác động của các yếu tố giá cả, lạm phát kinh tế, khả năng tăng trưởng hoặc suy thoái của doanh nghiệp đã làm cho các cam kết, thương lượng của các bên không còn phù hợp với thực tế hoặc không thể dự liệu hết các yêu cầu đòi hỏi khách quan.
Điều này làm phát sinh những tranh chấp lao động khi có một bên đưa ra yêu cầu, đỏi hỏi không được xác định trước trong hợp đồng lao động, trong thỏa ước hay theo quy định của pháp luật đối với phía bên kia. - Về phạm vi của tranh chấp lao động: tranh chấp lao động luôn phát sinh, tồn tại gắn liền với quan hệ lao động và quá trình lao động xã hội.