Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÌNH CÔNG VÀ GIẢI QUYẾT ĐÌNH CÔNG TRONG DIEU KIEN KINH TE THỊ TRƯỜNG VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM 1. BINH CONG TRONG DIEU KIÊN KINH TE THỊ TRƯỜNG 1. Đình công - hiện tượng khách quan trong nền kinh tế thị trường Nhận định về kinh tế thị trường, Mác và Anghen cho rằng: “Sự phân chia các lao động sản xuất khiến cho sản phẩm của từng loại lao động chuyển thành hàng hoá đối với nhau, buộc chúng làm thị trường lẫn cho nhau” [39, tr. Lê nin cũng nhận định: “Thi trường là một phạm trù của kinh tế hàng hoá” [36, tr.21]; “Hé ở đâu và khi nào có phân công xã hội và sản xuất hàng hoá thì ở đó và khi ấy, có “thị trường”; “quy mô của thị trường gắn chặt với trình độ chuyên môn hoá của lao động xã hội” [37, tr.
Như vậy, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lê nin, kinh tế thị trường luôn gắn với kinh tế hàng hoá. Không thể tồn tại kinh tế hàng hoá mà không có kinh tế thị trường, và ngược lại cũng không có kinh tế thị trường nếu không có kinh tế hàng hoá. Trong nền kinh tế thị trường tồn tại hệ thống thị trường là nơi diễn ra các hoạt động lưu thông hàng hoá. Căn cứ vào thuộc tính của các hàng hoá, có thể phân chia thành những loại thị trường khác nhau.
Trong số đó có thị trường mua bán một loại hàng hoá đặc biệt là hàng hoá sức lao động - thị trường lao động. Thị trường lao động là nơi diễn ra sự trao đổi sức lao động, thông qua quan hệ mua bán giữa người lao động (người bán) và người sử dụng lao động (người mua). Về vấn đề này, C.Mác từng nhận định: “Tai sao người lao động tự do ấy lại đứng đối diện với người chủ tiên trong lĩnh vực lưu thông, vấn đề ấy không làm bận tâm người chủ tiền là người đã tìm thấy thị trường lao động với tính cách là một chi nhánh đặc biệt của thị trường hàng ].253 Kinh tế học phương Tây cho rằng thị trường lao động có một số nét đặc trưng so với thị trường hàng hoá thông thường, đó là: 1) Trong thị trường lao động, người sở hữu sức lao động (người bán) ở vào địa vị không thuận lợi, không thể đàm phán bình dang với chủ thuê mướn (người mua); ii) Giá cả (tiền công) của sức lao động không chỉ là thù lao của việc cung cấp sức lao động hiện thời, mà còn bao gồm cả thù lao của thời kỳ dài bồi dưỡng và đào tạo kỹ thuật cho người lao động; iii) Điều kiện thuê mướn sức lao động không chỉ là bao nhiêu tiền công, mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác: thời gian công tác đài hay ngắn, hoàn cảnh công tác tốt hay xấu; iv) Hoạt động thuê mướn lao động không chỉ do chủ sử dụng lao động và công nhân tự do quyết định, mà còn chịu ảnh hưởng chi phối của các yếu tố khác như: pháp luật lao động, ảnh hưởng của các nghiệp đoàn công nhân và đoàn thể của chủ sử dụng lao động. Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động của mỗi thành viên trong xã hội không tách rời nhau do mối liên hệ tự nhiên về sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng.
Các mối quan hệ này làm nảy sinh những lợi ích chung, những quan hệ phụ thuộc gắn chặt với nhau trong hệ thống phân công lao động xã hội, ràng buộc về nghĩa vụ và quyền lợi bởi các quy định của pháp luật. Xã hội càng phát triển thì sự phân công lao động càng rõ nét, mối quan hệ phụ thuộc giữa các cá nhân càng chặt chẽ. Khi lợi ích của người lao động tang lên thì lợi nhuận của người chủ tư liệu sản xuất bị giảm xuống và ngược lại [31, tr. Người lao động do những nhu cầu vật chất và tinh thần thiết thân hàng ngày đã tham gia quan hệ lao động để có thu nhập thoả mãn các nhu cầu đó.
Trong quan hệ lao động, lợi ích của người lao động chủ yếu biểu hiện dưới dạng tiền lương, tiền thưởng và một số lợi ích khác. Những lợi ích này là động lực cơ bản thúc đẩy hoạt động của người lao động. Trong quan hệ lao động còn tồn tại lợi ích của người sử dụng lao động. Việc thu lợi nhuận của người sử dụng lao động gin liền với việc chiếm hữu giá tri thang dư thu được sau quá trình sử dụng la› động.
Để tăng lợi nhuận người sử dụng lao động thường tìm cách giảm tiền lương, tăng thời gian làm việc hay cắt giảm các chi phí cho việc đảm bảo an tcàn- vệ sinh lao động, bảo hiểm xã hội. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của người lao động và là một trong các nguyên nhân cơ bản tạo nên mâu thuan trong quan hệ lao động bởi quan hệ lao động cũng giống như “cá: quan hệ kinh tế của một xã hội nhất định nào đó, biểu hiện trước hết dưới tình thức lợi ích” [42, tr. Khi xác lập quan hệ lao động, các bên phải thoả thuận với nhau về tiền lương, thời giờ làm việc và các điều kiện sử dụng lao động khác. Sự thoả thuận có thể diễn ra nhiều lần trong suốt quá trình tồn tại quan hệ lao động, khi một trong hai bên cảm thấy cần phải sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thé thì sự thoả thuận lại dién ra [4, tr.
Trong quá trình thoả thuận, do vị trí yếu thế hơn của người lao động, do ảnh hưởng của tương quan cung cầu sức lao động, do sức ép của vấn dé việc làm và thu nhập, người lao động thường phải chấp nhận những điều khoản không có lợi cho chính mình. Sau khi hợp đồng leo động đã được thoả thuận, sức lao động của người lao động sẽ được kết hod với tư liệu sản xuất của người sử dụng lao động để tạo ra giá tri và giá trị thang dư. Xét về mặt ban chất, quan hệ lao động là quan hệ mua bán sức lao động, ở đó người lao động muốn bán sức lao động với giá cao, ngược lại ngườ sử dụng lao động muốn mua sức lao động với giá thấp. Chính vì vậy quan hè lao động vừa là quan hệ đối lập (sự đối lập có thể dẫn tới xung đột), nhưng đồng thời lại là quan hệ hợp tác (xung đột, đấu tranh, nhưng hai bên rất cần nhau đình công, tranh chấp nhưng không làm cho bên kia phải đóng cửa, phá sản) 4, tr.
Trong quan hệ lao động, giữa người mua sức lao động (người sử dụng lao động) với người bán sức lao động (người lao động) vừa có sự hợptác lâu dài, vừa có sự đối lập cục bộ về mặt lợi ích. Chính 1] vì hướng tới su hợp tac bền vững trong quan hệ lao động nên khi không dat được các thoả thuận về lợi ích như mong muốn, người lao động mới sử dụng cách thức đình công mà không chấm dứt quan hệ lao động của mình [53, tr. Trong quan hệ lao động, người lao động bán sức lao động để có thu nhập nhằm thoả mãn những nhu cầu cá nhân. Khi các lợi ích trong quan hệ lao động bị người sử dụng lao động vi phạm, người lao động sẽ tiến hành các cách thức để bảo vệ lợi ích của mình, vì xét đến cùng, “tất cả những gì mà con người đấu tranh để giành dat lấy đều gắn liền với lợi ích của họ” [41, tr.
Để bảo vệ lợi ích của mình, người lao động có thể thành lập và tham gia các tổ chức đại diện thương lượng với người sử dụng lao động để ký kết các thoả ước tập thể. Khi các biện pháp có tính chất ôn hoà nói trên không thể đem lại lợi ích cho người lao động, họ có thể sẽ tiến hành ngừng việc nhằm gây sức ép để đạt được những yêu sách nhất định. Việc những người lao động thông qua hành vi đồng loạt nghỉ việc đấu tranh với chủ sử dụng lao động được xem như biện pháp cuối cùng mà người lao động buộc phải sử dụng dé tự bảo vệ quyền và lợi ích. Căn cứ vào biểu hiện của hành vi ngừng việc trong từng trường hợp cụ thể, hiện tượng này có thể được gọi là đình công, lãn công hay phản ứng tập thể.
Khái niệm đình công Để đưa ra cách nhìn thống nhất và tương đối toàn diện về đình công, trước hết cần xem xét đình công dưới những góc độ khác nhau. Cụ thể là đình công cần được xem xét dưới các góc độ kinh tế, xã hội, chính trị và pháp lý với tư cách là một hiện tượng tồn tại khách quan trong nền kinh tế thị trường. Dưới góc độ kinh tế, đình công là biện pháp đấu tranh kinh tế được thực hiện bởi những người lao động, nhằm gây sức ép để đạt những yêu sách nhất định gắn với lợi ích kinh tế hoặc lợi ích nghề nghiệp. Thực tế đình công của nhiều nước trên thế giới cho thấy chủ thể bị gây sức ép có thể là người sử dụng 12 lao động trực tiếp tham gia quan hệ lao động, cũng có thể là một chủ sử dụng lao động ở nơi khác trong trường hợp đình công hưởng ứng, hoặc có thể là Nhà nước [16, tr.
Dinh công là biện pháp đấu tranh mang tính tập thể nên thường có những biểu hiện quá khích, nếu không kiểm soát kịp thời sẽ gây những hậu quả nghiêm trọng. Chính khả năng gây thiệt hại về kinh tế hay de doa gây thiệt hại về kinh tế mà đình công là phương thức có thể gây được áp lực với chủ thể đối diện, giúp tập thể lao động đạt được các yêu sách về quyền và lợi ích. Đình công không phải là biện pháp duy nhất để những người lao động đạt được mục đích của mình, nhưng với sức ép mà đình công có khả năng tạo ra, đình công thường được những người lao động coi là cách thức có hiệu quả để bảo vệ các quyền và lợi ích của họ. Để giải quyết những mâu thuẫn về quyền và lợi ích trong quan hệ lao động, tập thể lao động có thể sử dụng các giải pháp mang tính ôn hoà như thương lượng trực tiếp với chủ sử dụng lao động, hoặc thông qua vai trò của người trung gian giải quyết tranh chấp theo phương thức hoà giải.
Trong những trường hợp mâu thuẫn đã trở nên quá bức xúc và tập thể lao động cho rằng họ có nhiều lợi thế hơn trong tương quan lao động, tập thể lao động có thể tiến hành đình công.