Nâng cao pháp luật về đình công và giải quyết đình công ở Việt Nam

Luận án tiến sĩ phân tích pháp luật về đình công và giải quyết đình công tại Việt Nam trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2005

198
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: NHUNG VAN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÌNH CÔNG VÀ GIẢI QUYẾT ĐÌNH CÔNG TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM

1.1. Đình công trong điều kiện kinh tế thị trường

1.2. Giải quyết đình công trong điều kiện kinh tế thị trường

1.2.1. Điều chỉnh pháp luật đối với đình công và giải quyết đình công

1.2.2. Những tác động của nền kinh tế thị trường và xu thế hội nhập quốc tế đến pháp luật về đình công và giải quyết đình công ở Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐÌNH CÔNG VÀ GIẢI QUYẾT ĐÌNH CÔNG Ở VIỆT NAM

2.1. Thực trạng pháp luật về đình công

2.2. Thực trạng pháp luật về giải quyết đình công

3. CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐÌNH CÔNG VÀ GIẢI QUYẾT ĐÌNH CÔNG Ở VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

3.1. Sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật về đình công và giải quyết đình công ở Việt Nam

3.2. Những yêu cầu cơ bản đối với việc hoàn thiện pháp luật về đình công và giải quyết đình công ở Việt Nam

3.3. Những giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện pháp luật về đình công và giải quyết đình công ở Việt Nam

KẾT LUẬN

NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN TỚI LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Pháp Luật Đình Công Việt Nam Bối Cảnh Hội Nhập

Đình công là một quyền cơ bản của người lao động trong nền kinh tế thị trường. Quyền này được quy định trong Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá mà Việt Nam đã tham gia năm 1982. Pháp luật Việt Nam đã cụ thể hóa các quy định về đình công trong Bộ luật Lao động và các văn bản hướng dẫn. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy nhiều cuộc đình công diễn ra không tuân thủ quy định pháp luật, gây ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ lao động, môi trường đầu tư và thiệt hại cho các bên liên quan. Do đó, việc sửa đổi, bổ sung các quy phạm pháp luật về đình công và giải quyết đình công là cấp thiết, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Việc giải quyết tranh chấp lao động hiện nay tuân thủ Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng các quy định cụ thể về thủ tục giải quyết đình công vẫn còn hiệu lực, dù chưa thực sự hiệu quả. Điều này đặt ra yêu cầu xây dựng một văn bản pháp luật mới, toàn diện hơn về đình công và giải quyết đình công.

1.1. Lịch Sử Phát Triển Luật Đình Công ở Việt Nam

Pháp luật về đình công ở Việt Nam có lịch sử hình thành gắn liền với quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường. Ban đầu, Nhà nước giao cho các cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu ban hành các quy định cụ thể về đình công và giải quyết đình công. Sau gần 10 năm thực hiện, các quy định này bộc lộ nhiều vướng mắc, đặc biệt là tình trạng người lao động không tuân thủ quy định về đình công hợp pháp. Điều này cho thấy sự cần thiết phải sửa đổi, bổ sung để pháp luật đi vào cuộc sống và được các chủ thể tự giác chấp hành.

1.2. Vai Trò của Công Đoàn Trong Đình Công Hợp Pháp

Công đoàn đóng vai trò quan trọng trong việc đại diện và bảo vệ quyền lợi của người lao động trong các cuộc đình công hợp pháp. Công đoàn có trách nhiệm thương lượng với người sử dụng lao động, hòa giải tranh chấp và đảm bảo quyền lợi của người lao động được bảo vệ. Sự tham gia tích cực của công đoàn giúp đảm bảo đình công diễn ra trong khuôn khổ pháp luật và đạt được kết quả tích cực cho người lao động.

II. Thực Trạng Pháp Luật Đình Công Vấn Đề và Hướng Giải Quyết

Thực tế cho thấy, pháp luật hiện hành về đình công và giải quyết đình công còn nhiều bất cập. Tỷ lệ các cuộc đình công bất hợp pháp còn cao, cho thấy sự thiếu hiểu biết hoặc không tuân thủ quy định pháp luật của người lao động. Cơ chế giải quyết tranh chấp lao động, đặc biệt là đình công, chưa thực sự hiệu quả, dẫn đến tình trạng kéo dài, gây thiệt hại cho cả người lao động và người sử dụng lao động. Ý thức và nhận thức pháp luật về đình công của các bên trong quan hệ lao động còn hạn chế. Sự không thống nhất về quan điểm lý luận về pháp luật đình công cũng là một thách thức lớn. Tuy nhiên, nhờ tư duy đổi mới và quá trình hội nhập quốc tế, pháp luật về đình công và giải quyết đình công có điều kiện để thay đổi một cách toàn diện và hiệu quả hơn.

2.1. Nguyên Nhân Đình Công Bất Hợp Pháp Phổ Biến Nhất

Các nguyên nhân phổ biến dẫn đến đình công bất hợp pháp bao gồm: thiếu thông tin về quy trình đình công hợp pháp, bất đồng trong thương lượng tập thể, vi phạm quyền lợi của người lao động và sự can thiệp không đúng quy định của các bên liên quan. Việc nâng cao nhận thức pháp luật và tăng cường đối thoại xã hội là rất quan trọng để giảm thiểu tình trạng này.

2.2. Đánh Giá Tính Khả Thi của Quy Định Pháp Luật Hiện Hành

Tính khả thi của các quy định hiện hành về đình công và giải quyết đình công còn hạn chế. Điều này thể hiện qua việc chưa có cuộc đình công nào được đưa ra Tòa án giải quyết theo thủ tục luật định. Các quy định cần được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với thực tiễn và đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan, đặc biệt là người lao động.

III. Cách Hoàn Thiện Luật Đình Công Giải Pháp Hội Nhập Quốc Tế

Hoàn thiện pháp luật về đình công và giải quyết đình công là một yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Việc này đòi hỏi sự nghiên cứu kỹ lưỡng các quy định quốc tế, kinh nghiệm của các quốc gia khác và điều kiện cụ thể của Việt Nam. Các giải pháp cần tập trung vào việc đảm bảo quyền đình công hợp pháp của người lao động, xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp lao động hiệu quả, tăng cường vai trò của công đoàn và nâng cao nhận thức pháp luật cho các bên liên quan. Đồng thời, cần đảm bảo sự hài hòa giữa quyền lợi của người lao động và quyền tự do kinh doanh của người sử dụng lao động.

3.1. Nghiên Cứu So Sánh Luật Đình Công Các Nước Tiên Tiến

Nghiên cứu và so sánh pháp luật về đình công của các quốc gia tiên tiến, đặc biệt là các nước có nền kinh tế thị trường phát triển và hệ thống pháp luật lao động tiến bộ. Việc học hỏi kinh nghiệm quốc tế giúp Việt Nam xây dựng một hệ thống pháp luật về đình công phù hợp với chuẩn mực quốc tế và đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập.

3.2. Tăng Cường Vai Trò của Hòa Giải và Trọng Tài Lao Động

Tăng cường vai trò của các cơ chế hòa giải và trọng tài lao động trong giải quyết tranh chấp lao động, đặc biệt là các tranh chấp có thể dẫn đến đình công. Việc này giúp các bên liên quan tìm kiếm giải pháp hòa bình và tránh các cuộc đình công bất hợp pháp, gây thiệt hại cho cả hai bên.

3.3. Rà Soát Điều Ước Quốc Tế về Quyền Đình Công

Rà soát lại các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết liên quan đến quyền đình công của người lao động, từ đó nội luật hóa các quy định phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam, đảm bảo quyền lợi của người lao động được bảo vệ theo tiêu chuẩn quốc tế.

IV. Cơ Chế Giải Quyết Đình Công Hiệu Quả Vai Trò Nhà Nước

Cơ chế giải quyết đình công hiệu quả cần có sự tham gia tích cực của Nhà nước. Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc xây dựng khung pháp lý, giám sát việc thực thi pháp luật và hỗ trợ các bên liên quan giải quyết tranh chấp. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước, công đoàn và tổ chức đại diện người sử dụng lao động để đảm bảo đình công được giải quyết một cách công bằng, khách quan và nhanh chóng. Việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác giải quyết tranh chấp lao động cũng rất quan trọng.

4.1. Xây Dựng Quy Trình Giải Quyết Đình Công Rõ Ràng Minh Bạch

Xây dựng một quy trình giải quyết đình công rõ ràng, minh bạch và dễ thực hiện. Quy trình này cần quy định rõ trách nhiệm của các bên liên quan, thời hạn giải quyết và các biện pháp xử lý vi phạm. Việc công khai quy trình này giúp tăng cường sự tin tưởng của người lao động và người sử dụng lao động vào hệ thống pháp luật.

4.2. Tăng Cường Năng Lực Giải Quyết Đình Công Của Tòa Án

Nâng cao năng lực giải quyết tranh chấp lao động, đặc biệt là các vụ đình công, của Tòa án lao động. Cần đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ thẩm phán có chuyên môn sâu về luật lao động và kỹ năng giải quyết tranh chấp. Đồng thời, cần đảm bảo Tòa án hoạt động độc lập, khách quan và công bằng.

4.3. Điều Tra và Xử Lý Vi Phạm Pháp Luật Nghiêm Minh

Thực hiện điều tra và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình đình công, đặc biệt là các hành vi gây rối, xâm phạm tài sản hoặc đe dọa tính mạng, sức khỏe của người khác. Điều này giúp răn đe các hành vi vi phạm và đảm bảo trật tự an toàn xã hội.

V. Đảm Bảo Quyền Lợi Người Lao Động Yếu Tố Ổn Định Xã Hội

Đảm bảo quyền lợi của người lao động là yếu tố then chốt để duy trì sự ổn định xã hội. Pháp luật về đình công cần được xây dựng và thực thi một cách công bằng, minh bạch và hiệu quả để bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động. Cần tăng cường đối thoại xã hội giữa người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước để giải quyết các vấn đề phát sinh trong quan hệ lao động. Đồng thời, cần nâng cao nhận thức pháp luật cho người lao động để họ biết cách bảo vệ quyền lợi của mình một cách hợp pháp.

5.1. Nâng Cao Nhận Thức Pháp Luật Về Lao Động Cho Người Lao Động

Tổ chức các chương trình đào tạo, tuyên truyền và phổ biến pháp luật về lao động cho người lao động, đặc biệt là các quy định về quyền và nghĩa vụ của người lao động trong quá trình đình công. Việc này giúp người lao động hiểu rõ quyền lợi của mình và thực hiện quyền đình công một cách hợp pháp.

5.2. Tăng Cường Đối Thoại Xã Hội Về Quan Hệ Lao Động

Thúc đẩy đối thoại xã hội giữa người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước để giải quyết các vấn đề phát sinh trong quan hệ lao động. Đối thoại xã hội giúp các bên liên quan tìm kiếm giải pháp hòa bình và tránh các cuộc đình công không đáng có.

5.3. Giám Sát Thực Thi Pháp Luật Lao Động Hiệu Quả

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát việc thực thi pháp luật lao động, đặc biệt là các quy định về tiền lương, thời giờ làm việc, an toàn vệ sinh lao động và bảo hiểm xã hội. Việc này giúp phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm, bảo vệ quyền lợi của người lao động.

VI. Tương Lai Pháp Luật Đình Công Cải Cách Phát Triển Bền Vững

Tương lai của pháp luật đình công ở Việt Nam phụ thuộc vào quá trình cải cách và phát triển bền vững của hệ thống pháp luật lao động. Cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về đình công và giải quyết đình công, đảm bảo phù hợp với chuẩn mực quốc tế và điều kiện cụ thể của Việt Nam. Đồng thời, cần xây dựng một nền văn hóa lao động hài hòa, dựa trên sự tôn trọng, tin tưởng và hợp tác giữa các bên liên quan. Việc này đòi hỏi sự nỗ lực của tất cả các bên, từ Nhà nước, công đoàn, tổ chức đại diện người sử dụng lao động đến từng người lao động.

6.1. Cải Cách Thủ Tục Giải Quyết Tranh Chấp Lao Động

Tiếp tục cải cách thủ tục giải quyết tranh chấp lao động, hướng tới sự đơn giản, nhanh chóng và hiệu quả. Cần giảm thiểu các thủ tục hành chính rườm rà, tạo điều kiện thuận lợi cho các bên liên quan tiếp cận công lý.

6.2. Xây Dựng Mối Quan Hệ Lao Động Hài Hòa Bền Vững

Xây dựng một mối quan hệ lao động hài hòa, bền vững, dựa trên sự tôn trọng, tin tưởng và hợp tác giữa người lao động và người sử dụng lao động. Điều này đòi hỏi sự nỗ lực của tất cả các bên liên quan, từ Nhà nước, công đoàn, tổ chức đại diện người sử dụng lao động đến từng người lao động.

6.3. Thúc Đẩy Tuân Thủ Pháp Luật Lao Động

Thúc đẩy văn hóa tuân thủ pháp luật lao động trong các doanh nghiệp và tổ chức. Cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật và kiểm tra, giám sát việc thực thi pháp luật để đảm bảo các quy định pháp luật được tuân thủ một cách nghiêm túc.

28/05/2025
Luận án tiến sĩ luật học pháp luật về đình công và giải quyết đình công ở việt nam trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÌNH CÔNG VÀ GIẢI QUYẾT ĐÌNH CÔNG TRONG DIEU KIEN KINH TE THỊ TRƯỜNG VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM 1. BINH CONG TRONG DIEU KIÊN KINH TE THỊ TRƯỜNG 1. Đình công - hiện tượng khách quan trong nền kinh tế thị trường Nhận định về kinh tế thị trường, Mác và Anghen cho rằng: “Sự phân chia các lao động sản xuất khiến cho sản phẩm của từng loại lao động chuyển thành hàng hoá đối với nhau, buộc chúng làm thị trường lẫn cho nhau” [39, tr. Lê nin cũng nhận định: “Thi trường là một phạm trù của kinh tế hàng hoá” [36, tr.21]; “Hé ở đâu và khi nào có phân công xã hội và sản xuất hàng hoá thì ở đó và khi ấy, có “thị trường”; “quy mô của thị trường gắn chặt với trình độ chuyên môn hoá của lao động xã hội” [37, tr.

Như vậy, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lê nin, kinh tế thị trường luôn gắn với kinh tế hàng hoá. Không thể tồn tại kinh tế hàng hoá mà không có kinh tế thị trường, và ngược lại cũng không có kinh tế thị trường nếu không có kinh tế hàng hoá. Trong nền kinh tế thị trường tồn tại hệ thống thị trường là nơi diễn ra các hoạt động lưu thông hàng hoá. Căn cứ vào thuộc tính của các hàng hoá, có thể phân chia thành những loại thị trường khác nhau.

Trong số đó có thị trường mua bán một loại hàng hoá đặc biệt là hàng hoá sức lao động - thị trường lao động. Thị trường lao động là nơi diễn ra sự trao đổi sức lao động, thông qua quan hệ mua bán giữa người lao động (người bán) và người sử dụng lao động (người mua). Về vấn đề này, C.Mác từng nhận định: “Tai sao người lao động tự do ấy lại đứng đối diện với người chủ tiên trong lĩnh vực lưu thông, vấn đề ấy không làm bận tâm người chủ tiền là người đã tìm thấy thị trường lao động với tính cách là một chi nhánh đặc biệt của thị trường hàng ].253 Kinh tế học phương Tây cho rằng thị trường lao động có một số nét đặc trưng so với thị trường hàng hoá thông thường, đó là: 1) Trong thị trường lao động, người sở hữu sức lao động (người bán) ở vào địa vị không thuận lợi, không thể đàm phán bình dang với chủ thuê mướn (người mua); ii) Giá cả (tiền công) của sức lao động không chỉ là thù lao của việc cung cấp sức lao động hiện thời, mà còn bao gồm cả thù lao của thời kỳ dài bồi dưỡng và đào tạo kỹ thuật cho người lao động; iii) Điều kiện thuê mướn sức lao động không chỉ là bao nhiêu tiền công, mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác: thời gian công tác đài hay ngắn, hoàn cảnh công tác tốt hay xấu; iv) Hoạt động thuê mướn lao động không chỉ do chủ sử dụng lao động và công nhân tự do quyết định, mà còn chịu ảnh hưởng chi phối của các yếu tố khác như: pháp luật lao động, ảnh hưởng của các nghiệp đoàn công nhân và đoàn thể của chủ sử dụng lao động. Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động của mỗi thành viên trong xã hội không tách rời nhau do mối liên hệ tự nhiên về sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng.

Các mối quan hệ này làm nảy sinh những lợi ích chung, những quan hệ phụ thuộc gắn chặt với nhau trong hệ thống phân công lao động xã hội, ràng buộc về nghĩa vụ và quyền lợi bởi các quy định của pháp luật. Xã hội càng phát triển thì sự phân công lao động càng rõ nét, mối quan hệ phụ thuộc giữa các cá nhân càng chặt chẽ. Khi lợi ích của người lao động tang lên thì lợi nhuận của người chủ tư liệu sản xuất bị giảm xuống và ngược lại [31, tr. Người lao động do những nhu cầu vật chất và tinh thần thiết thân hàng ngày đã tham gia quan hệ lao động để có thu nhập thoả mãn các nhu cầu đó.

Trong quan hệ lao động, lợi ích của người lao động chủ yếu biểu hiện dưới dạng tiền lương, tiền thưởng và một số lợi ích khác. Những lợi ích này là động lực cơ bản thúc đẩy hoạt động của người lao động. Trong quan hệ lao động còn tồn tại lợi ích của người sử dụng lao động. Việc thu lợi nhuận của người sử dụng lao động gin liền với việc chiếm hữu giá tri thang dư thu được sau quá trình sử dụng la› động.

Để tăng lợi nhuận người sử dụng lao động thường tìm cách giảm tiền lương, tăng thời gian làm việc hay cắt giảm các chi phí cho việc đảm bảo an tcàn- vệ sinh lao động, bảo hiểm xã hội. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của người lao động và là một trong các nguyên nhân cơ bản tạo nên mâu thuan trong quan hệ lao động bởi quan hệ lao động cũng giống như “cá: quan hệ kinh tế của một xã hội nhất định nào đó, biểu hiện trước hết dưới tình thức lợi ích” [42, tr. Khi xác lập quan hệ lao động, các bên phải thoả thuận với nhau về tiền lương, thời giờ làm việc và các điều kiện sử dụng lao động khác. Sự thoả thuận có thể diễn ra nhiều lần trong suốt quá trình tồn tại quan hệ lao động, khi một trong hai bên cảm thấy cần phải sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thé thì sự thoả thuận lại dién ra [4, tr.

Trong quá trình thoả thuận, do vị trí yếu thế hơn của người lao động, do ảnh hưởng của tương quan cung cầu sức lao động, do sức ép của vấn dé việc làm và thu nhập, người lao động thường phải chấp nhận những điều khoản không có lợi cho chính mình. Sau khi hợp đồng leo động đã được thoả thuận, sức lao động của người lao động sẽ được kết hod với tư liệu sản xuất của người sử dụng lao động để tạo ra giá tri và giá trị thang dư. Xét về mặt ban chất, quan hệ lao động là quan hệ mua bán sức lao động, ở đó người lao động muốn bán sức lao động với giá cao, ngược lại ngườ sử dụng lao động muốn mua sức lao động với giá thấp. Chính vì vậy quan hè lao động vừa là quan hệ đối lập (sự đối lập có thể dẫn tới xung đột), nhưng đồng thời lại là quan hệ hợp tác (xung đột, đấu tranh, nhưng hai bên rất cần nhau đình công, tranh chấp nhưng không làm cho bên kia phải đóng cửa, phá sản) 4, tr.

Trong quan hệ lao động, giữa người mua sức lao động (người sử dụng lao động) với người bán sức lao động (người lao động) vừa có sự hợptác lâu dài, vừa có sự đối lập cục bộ về mặt lợi ích. Chính 1] vì hướng tới su hợp tac bền vững trong quan hệ lao động nên khi không dat được các thoả thuận về lợi ích như mong muốn, người lao động mới sử dụng cách thức đình công mà không chấm dứt quan hệ lao động của mình [53, tr. Trong quan hệ lao động, người lao động bán sức lao động để có thu nhập nhằm thoả mãn những nhu cầu cá nhân. Khi các lợi ích trong quan hệ lao động bị người sử dụng lao động vi phạm, người lao động sẽ tiến hành các cách thức để bảo vệ lợi ích của mình, vì xét đến cùng, “tất cả những gì mà con người đấu tranh để giành dat lấy đều gắn liền với lợi ích của họ” [41, tr.

Để bảo vệ lợi ích của mình, người lao động có thể thành lập và tham gia các tổ chức đại diện thương lượng với người sử dụng lao động để ký kết các thoả ước tập thể. Khi các biện pháp có tính chất ôn hoà nói trên không thể đem lại lợi ích cho người lao động, họ có thể sẽ tiến hành ngừng việc nhằm gây sức ép để đạt được những yêu sách nhất định. Việc những người lao động thông qua hành vi đồng loạt nghỉ việc đấu tranh với chủ sử dụng lao động được xem như biện pháp cuối cùng mà người lao động buộc phải sử dụng dé tự bảo vệ quyền và lợi ích. Căn cứ vào biểu hiện của hành vi ngừng việc trong từng trường hợp cụ thể, hiện tượng này có thể được gọi là đình công, lãn công hay phản ứng tập thể.

Khái niệm đình công Để đưa ra cách nhìn thống nhất và tương đối toàn diện về đình công, trước hết cần xem xét đình công dưới những góc độ khác nhau. Cụ thể là đình công cần được xem xét dưới các góc độ kinh tế, xã hội, chính trị và pháp lý với tư cách là một hiện tượng tồn tại khách quan trong nền kinh tế thị trường. Dưới góc độ kinh tế, đình công là biện pháp đấu tranh kinh tế được thực hiện bởi những người lao động, nhằm gây sức ép để đạt những yêu sách nhất định gắn với lợi ích kinh tế hoặc lợi ích nghề nghiệp. Thực tế đình công của nhiều nước trên thế giới cho thấy chủ thể bị gây sức ép có thể là người sử dụng 12 lao động trực tiếp tham gia quan hệ lao động, cũng có thể là một chủ sử dụng lao động ở nơi khác trong trường hợp đình công hưởng ứng, hoặc có thể là Nhà nước [16, tr.

Dinh công là biện pháp đấu tranh mang tính tập thể nên thường có những biểu hiện quá khích, nếu không kiểm soát kịp thời sẽ gây những hậu quả nghiêm trọng. Chính khả năng gây thiệt hại về kinh tế hay de doa gây thiệt hại về kinh tế mà đình công là phương thức có thể gây được áp lực với chủ thể đối diện, giúp tập thể lao động đạt được các yêu sách về quyền và lợi ích. Đình công không phải là biện pháp duy nhất để những người lao động đạt được mục đích của mình, nhưng với sức ép mà đình công có khả năng tạo ra, đình công thường được những người lao động coi là cách thức có hiệu quả để bảo vệ các quyền và lợi ích của họ. Để giải quyết những mâu thuẫn về quyền và lợi ích trong quan hệ lao động, tập thể lao động có thể sử dụng các giải pháp mang tính ôn hoà như thương lượng trực tiếp với chủ sử dụng lao động, hoặc thông qua vai trò của người trung gian giải quyết tranh chấp theo phương thức hoà giải.

Trong những trường hợp mâu thuẫn đã trở nên quá bức xúc và tập thể lao động cho rằng họ có nhiều lợi thế hơn trong tương quan lao động, tập thể lao động có thể tiến hành đình công.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nâng cao pháp luật về đình công và giải quyết đình công ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế" cung cấp cái nhìn sâu sắc về những thách thức và cơ hội trong việc cải cách pháp luật liên quan đến đình công tại Việt Nam. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc điều chỉnh các quy định pháp lý để phù hợp với xu hướng hội nhập quốc tế, từ đó tạo ra một môi trường làm việc công bằng và hiệu quả hơn cho người lao động.

Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích thiết thực từ tài liệu này, bao gồm việc hiểu rõ hơn về quyền lợi của công đoàn và người lao động trong bối cảnh hiện đại. Để mở rộng kiến thức, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ luật học thực trạng pháp luật về quyền của công đoàn trong giải quyết tranh chấp lao động tập thể, nơi cung cấp cái nhìn chi tiết về quyền lợi của công đoàn trong việc giải quyết tranh chấp.

Ngoài ra, tài liệu Luận án tiến sĩ giải quyết tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn xét xử của tòa án nhân dân tại thành phố Hồ Chí Minh sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quy trình pháp lý trong việc chấm dứt hợp đồng lao động.

Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ chức năng đại diện cho người lao động của tổ chức công đoàn tại doanh nghiệp FDI trong giải quyết tranh chấp lao động tập thể và đình công thực trạng và giải pháp sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò của công đoàn trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức mà còn giúp bạn nắm bắt được các khía cạnh quan trọng trong lĩnh vực pháp luật lao động hiện nay.