Chương 1: MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE QUYEN CUA CONG DOAN TRONG GIAI QUYET TRANH CHAP LAO DONG TAP THE 1. Tranh chap lao động tập thé và giải quyết tranh chấp lao động tap 1. Tranh chấp lao động tập thé 1. Khái niệm tranh chấp lao động tập thé Quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường được thiết lập trên cơ sở tự nguyện, bình đăng và cùng có lợi giữa NLD va NSDLĐ.
Mục đích đạt được lợi ích của mỗi bên khó có thé dung hòa trong quá trình thực hiện HDLD, boi NLD có nhu cầu tăng lương, giảm giờ làm, muốn được làm việc trong môi trường có điều kiện vệ sinh lao động tốt hơn. Ngược lại, NSDLĐ muốn tăng cường độ làm việc, giảm chi phí san xuất và chi phí khác dé đạt được lợi nhuận cao hơn. Sự đối nghịch nhau nến không được giải quyết thi dé dang làm nảy sinh tranh chap. TCLĐ là chỉ loại tranh chấp về các vẫn đề liên quan đến quá trình xác lập, duy trì, cham đứt mối quan hệ lao động giữa các bên.
Không chi có vậy, tranh chấp lao động còn bao gồm cả các xung đột liên quan đến việc làm, học nghề, quan hệ đại diện lao động v.; tức là những van dé liên quan đến quyên, lợi ích của NLD và NSDLĐỶ. Như vậy, dựa trên những nội dung trên, có thé rút ra một số dau hiệu căn bản của tranh chấp lao động: tranh chấp lao động phải là sự xung đột giữa các chủ thê trong quan hệ lao động; sự xung đột đó diễn ra trong quá trình lao động; sự xung đột giữa các bên tranh chấp phải gắn liền, xuất phát từ quyền, lợi ích của các bên liên quan đến quá trình lao động đó mà không phải là quyền, lợi ích khác ngoài quá trình lao động; xung đột giữa các bên nói ở trên phải thể hiện qua hình thức nhất định và biểu đạt rõ yêu cầu của một hoặc tat cả các bên về sự giải quyết tranh chấp lao động đó. Tại Việt Nam, tranh chấp lao động lần đầu được thể hiện trong Bộ luật lao động 1994, sửa đổi bổ sung vào các năm 2002, 2006, 2007. Bộ luật này lần đầu tiên 3 Giáo trình luật lao động Việt Nam (2015), Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb.
Công an nhân dân, Hà Nội, tr. đưa ra khái niệm về TCLĐỶ, va được sửa đôi vào năm 2006°. Khái niệm này được kế thừa và hoàn thiện trong Bộ luật lao động năm 2012°. Hién nay tai nhiều nước trên thé giới, TCLĐ được phân thành hai loại là tranh chấp cá nhân và tranh chấp tập thể.
Cách phân loại trên có nguồn góc lich sử gan liền với sự hình thành hệ thống tòa án chuyên giải quyết tranh chấp lao động (conseilsde prud’hommes) ở Pháp”. Hệ thống tòa án này được thành lập theo một đạo luật ban hành từ năm 1806, chính là thời kỳ các tổ chức công đoàn chỉ mới bắt đầu xuất hiện. Sau này, khi tổ chức công đoàn lớn mạnh, sự phát triển của thương lượng tập thé và sự ra đời của thỏa ước tập thể đã dẫn đến sự hình thành một loại tranh chấp mới, đòi hỏi phải có một cơ chế giải quyết riêng. Do là các tranh chấp có tính tập thể và gắn liền với tổ chức công đoàn.
Tuy nhiên, do hệ thống tòa án chuyên giải quyết TCLĐ cá nhân hoạt động khá hiệu quả, nên khi các quốc gia ban hành các quy định mới về giải quyết tranh chấp lao động, hệ thống tòa án này vẫn được giữ nguyên. Vì vậy, ở những nước này, tồn tại song song hai cơ chế giải quyết tranh chấp lao động: một dành cho tranh chấp cá nhân và một áp dụng cho tranh chấp tập thểỶ. * Khoản 1 Điều 157 Bộ luật lao động năm 1994: “Tranh chấp lao động là tranh chấp về quyên và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác, về thực hiện hợp dong, thỏa ước tập thể và trong quá trình học nghề `. > Khoản 1 điều 157 Bộ luật lao động năm 1994 sửa đổi năm 2006: “Tranh chấp lao động là những tranh chấp về quyên và lợi ích phát sinh trong quan hệ lao động giữa người lao động, tập thể lao động với người sử dụng lao động.
” ° Khoản 7 điều 3 Bộ luật lao động năm 2012: “Tranh chấp lao động là tranh chấp về quyén, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa người lao động và người su dụng lao động. ” 7 Trung tâm bồi đưỡng đại biểu dân cử - Ủy ban thường vụ Quốc hội Ban công tác đại biểu (2016), “Quan niệm của một số nước về tranh chấp lao động tập thé”, Trung tam bồi dưỡng đại biểu dân cử, tại địa chỉ http:/tailieu.php/tai-lieu/chuyen-de-chuyen- sau/item/640-quan-niem-cua-mot-so-nuoc-ve-tranh-chap-lao-dong-tap-the ngày truy cập 10/7/2018. * Trung tâm bồi đưỡng đại biểu dân cử - Ủy ban thường vụ Quốc hội Ban công tác đại biểu (2016), “Quan niệm của một số nước về tranh chấp lao động tập thé”, Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dân cử, tại địa chỉ http:/tailieu.php/tai-lieu/chuyen-de-chuyen- 10 Tại Việt Nam, pháp luật lao động hiện tại cũng phân chia TCLĐ thành TCLĐ cá nhân và TCLĐTT. Trong đó, TCLĐTT được hiểu là tranh chấp phát sinh từ những mâu thuẫn, bất đồng giữa một bên là một hoặc nhiều NSDLD (hoặc tô chức đại diện NSDLĐ) với một bên là tập thé lao động (hoặc tổ chức đại diện tập thé lao động) về các quyền, lợi ích của các bên trong quan hệ lao động tập thé’.
Căn cứ vào tính chất của TCLĐ, trong TCLDTT có thể được chia làm hai loại là TCLĐTT về quyền và TCLĐTT về lợi ích: Tranh chấp lao động tập thể về quyên là tranh chấp giữa tập thê lao động với NSDLD phát sinh từ việc giải thích và thực hiện khác nhau quy định của pháp luật về lao động, thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động, quy chế và thỏa thuận hợp pháp khác”. Về bản chat, đây là tranh chấp về việc đòi khôi phục sự thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật gây ra. Việc giải quyết loại hình tranh chấp này chủ yếu dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật và bởi tranh chấp thường trong tình trạng gay gắt nên phải bảo đảm nhanh chong, kịp thời dé khôi phục quyền lợi của bên bị vi phạm, han ché xung đột, phat sinh những hậu quả kinh tế - xã hội. Tranh chấp lao động tập thể về lợi ích là tranh chấp lao động phát sinh từ việc tập thé yêu cầu xác lập các điều kiện lao động mới so với quy định của pháp luật lao động, thỏa ước lao động tập thé, nội quy lao động hoặc các quy chế, thỏa thuận hợp pháp khác trong quá trình thương lượng giữa tập thé lao động với NSDLĐ'.
Từ góc độ kinh tế, tranh chấp lao động tập thê về lợi ích là quá trình đấu tranh giữa mọi mặt của lợi ích kinh tế, giữa lợi nhuận của NSDLD với thu nhập cua NLD, giữa giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động. Các chuẩn mực làm căn cứ xem xét yêu cầu của các bên tranh chấp khó mà định lượng một cách chính xác, chủ yếu là dựa trên sự đánh giá về tính hợp lý, chính xác của các bên. Và vì vậy, các phương pháp như đối thoại, thương lượng, hòa giải giữa các bên là một yêu cau, là công cụ không thé thiếu dé giải quyết TCLĐTT. sau/item/640-quan-niem-cua-mot-so-nuoc-ve-tranh-chap-lao-dong-tap-the ngày truy cap ^ 10/7/2018.
? Vũ Thị Thu Hiền (2016), Pháp luật giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích ở Việt Nam, Luận án tiễn sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr. '° Khoản 8 điều 3 Bộ luật lao động năm 2012. '' Khoản 9 điều 3 Bộ luật lao động năm 2012. Dấu hiệu của tranh chấp lao động tập thể Trong quan điểm của hầu hết các nước trên thế giới, TCLĐTT nói chung đều thé hiện tinh tập thể, đây là đặc điểm quan trọng nhất dé phân biệt với TCLĐ cá nhân.
Tính tập thé trong một vu TCLDTT được thể hiện chủ yếu ở khía cạnh chủ thé, nội dung và mục đích của tranh chap”. * Vé chủ thể: TCLĐTT bao giờ cũng phát sinh giữa một bên là một hoặc nhiều NSDLĐ với bên kia là tập thé lao động. Tập thé theo Từ điển tiếng Việt có nghĩa là “tdp hợp những người có quan hệ gắn bó, cùng sinh hoạt hoặc cùng lam việc chung với nhau '”°. TCLDTT có thê xảy ra ở phạm vi doanh nghiệp, hoặc rộng hơn như ngành, khu vực.
Tổ chức đại diện lao động tham gia vào tranh chấp lao động với tư cách là đại diện của tập thé lao động. Vì thế, một bên của TCLĐTT có thể là tập thể lao động hoặc tô chức đại diện tập thé lao động. * Vé nội dung và mục đích tranh chấp: bao gồm những mâu thuẫn về quyền và lợi ích chung của tập thể lao động trong việc xác lập, thay đổi điều kiện lao dong; ky kết các thỏa thuận mang tính tập thé; các bat đồng liên quan đến thực hiện quyền về tô chức nghề nghiệp của NLD và NSDLĐ, việc thừa nhận các tổ chức nghề nghiệp trong phạm vi một doanh nghiệp, một ngành. Giải quyết tranh chap lao động tập thé Giải quyết có nghĩa là “làm cho không còn thành van đề nữa “”.
Vậy, giải quyết TCLĐTT được hiểu là việc tiến hành các hoạt động nhằm làm cho những tranh chấp giữa tập thé lao động và NSDLD về quyên, lợi ích của tập thé lao động không còn nữa. Dưới góc độ pháp luật, việc giải quyết tranh chấp lao động cần phải đáp ứng được những nguyên tắc chung, tôn trọng quyền tự quyết của các bên trong khuôn khổ pháp luật và lợi ích xã hội, lợi ích cộng đồng. Bên cạnh đó, pháp luật cũng đặt '? Vũ Thi Thu Hiền (2016), Pháp luật giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ich ở Việt Nam, Luận án tiễn sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội, tr. '3 Viện Ngôn ngữ học (2003), Tir điển Tiếng Việt, Nxb.
Đà Nẵng — Trung tâm Từ dién học, tr. '* Viện Ngôn ngữ học (2003), Tir điển Tiếng Việt, Nxb. Da Nẵng — Trung tâm Từ điển học, tr. 12 ra cơ chế giải quyết theo trình tự thủ tục nhất định, do những cơ quan, tổ chức được trao nhiệm vụ, quyền hạn tiễn hành.
Một cơ chế giải quyết tranh chấp lao động phù hợp là công cụ quan trọng để loại bỏ những vấn đề, mâu thuẫn giữa các bên trong quan hệ lao động về quyền, lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, việc thực hiện hợp đồng lao động, v.