Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Rào cản kỹ thuật đối với hàng dệt may xuất khẩu và giải pháp của Việt Nam", chuyên ngành Thương mại (mã số: 62.01), được nghiên cứu sinh Phạm Thị Lụa thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Thị Nhiễu và TS. Phạm Thu Giang tại Viện Nghiên cứu Thương mại (Bộ Công thương và Bộ Giáo dục và Đào tạo), bảo vệ năm 2014 tại Hà Nội.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng dệt may là ngành kinh tế có đóng góp lớn cho tăng trưởng, giải quyết việc làm và là một trong hai nhóm hàng xuất khẩu chủ lực có kim ngạch lớn nhất của Việt Nam. Năm 2012, kim ngạch xuất khẩu dệt may đạt 15,1 tỷ USD (tăng 7,5% so với năm 2011, chiếm trên 13% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước); năm 2013 đạt 20,020 tỷ USD. Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), lộ trình cắt giảm thuế quan được thực thi khiến các quốc gia nhập khẩu chuyển sang sử dụng mạnh mẽ các biện pháp phi thuế quan, trong đó rào cản kỹ thuật (RCKT - TBT) là công cụ phổ biến, tinh vi và phức tạp nhất. Các thị trường chủ lực như Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản liên tục gia tăng các quy định khắt khe về chất lượng, an toàn sức khỏe, môi trường, lao động và xuất xứ hàng hóa (điển hình là quy tắc "từ sợi trở đi" trong đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương - TPP). Trong khi đó, hàng dệt may Việt Nam chủ yếu gia công ở công đoạn may cuối cùng, phụ thuộc lớn vào mẫu mã và nguyên phụ liệu nhập khẩu, giá trị gia tăng nội địa thấp, năng lực vượt rào cản kỹ thuật còn nhiều hạn chế ở cả tầm vĩ mô và vi mô. Nhận thức thực tế cho thấy các công trình trước đây thường nhìn nhận RCKT một chiều, tiêu cực hoặc nghiên cứu chung cho toàn bộ hàng hóa xuất khẩu, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu và có tính hệ thống về RCKT đối với riêng mặt hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là làm rõ cơ sở khoa học (cả lý luận và thực tiễn) cho việc đề xuất các giải pháp nhằm vượt qua RCKT của các nước nhập khẩu, đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam. Để đạt được mục tiêu này, luận án xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm rõ những vấn đề lý luận chung về RCKT và vượt RCKT trong xuất khẩu hàng dệt may.
  2. Nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trên thế giới trong việc vượt qua RCKT thương mại đối với hàng dệt may và rút ra các bài học cho Việt Nam.
  3. Phân tích và đánh giá thực trạng xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam trong những năm gần đây.
  4. Phân tích hệ thống RCKT của một số thị trường chủ yếu đối với mặt hàng dệt may xuất khẩu và tác động của RCKT đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam; phân tích thực trạng vượt RCKT của Việt Nam thời gian qua; đánh giá những thành tựu đạt được, những bất cập và tìm ra nguyên nhân của những hạn chế; xác định các yêu cầu cần phải điều chỉnh, bổ sung, xây dựng mới về cơ chế, chính sách của Nhà nước, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam vượt qua các RCKT.
  5. Nghiên cứu, phân tích bối cảnh, triển vọng xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam đến năm 2020, từ đó đề xuất quan điểm, định hướng và các giải pháp cả ở tầm vĩ mô và vi mô nhằm tăng cường năng lực vượt RCKT, đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là rào cản kỹ thuật đối với hàng dệt may xuất khẩu. Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:

  • Về nội dung: Nghiên cứu các quy định RCKT đối với hàng dệt may của các nước nhập khẩu, các chính sách và biện pháp mà Việt Nam đã áp dụng để vượt rào, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực vượt RCKT, đẩy mạnh xuất khẩu dệt may.
  • Về không gian: Tập trung vào 3 thị trường nhập khẩu chính gồm Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản (chiếm khoảng 70% kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam); đồng thời nghiên cứu năng lực vượt rào cản của hàng dệt may Việt Nam trên phạm vi cả nước ở cả cấp độ quản lý nhà nước (vĩ mô) và doanh nghiệp (vi mô).
  • Về thời gian: Phân tích thực trạng vượt RCKT giai đoạn 2007 - 2013 (tính từ thời điểm Việt Nam chính thức là thành viên WTO) và đề xuất giải pháp cho giai đoạn đến năm 2020.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan theo từng nhóm chủ đề:

Về nghiên cứu nước ngoài, tác giả điểm lại các công trình nền tảng về rào cản thương mại và biện pháp phi thuế quan của Baldwin (1970) với tác phẩm "Sự biến dạng phi thuế quan trong Thương mại quốc tế" và Philippa Dee (2005) về các phương pháp xác định ảnh hưởng của biện pháp phi thuế quan; các tài liệu hướng dẫn của WTO, OECD (1997), PECC. Đi sâu vào RCKT có nghiên cứu của Keith E. Maskus ("Quantifying the Impact of Technical Barriers to Trade, a Framework for Analysis") cung cấp phương pháp luận phân tích TBT đối với các nước đang phát triển; Xiaohua Bao và Larry D. Qiu (2010) với bài viết "Do Technical Barriers to Trade Promote or Restrict Trade? evidence from China" trên tạp chí Asia Pacific of Accounting and Economic số 17/2010, sử dụng cơ sở dữ liệu TBT giai đoạn 1998 - 2006 để kiểm tra tác động đối với hàng nhập khẩu Trung Quốc. Đối với mặt hàng dệt may, Ningchuan Jiang (2008) với nghiên cứu "Effect of Technical Barriers to Trade on Chinese Textile Product Trade" trên tạp chí International Business Research đã đánh giá tác động của TBT tại Mỹ, châu Âu, Nhật Bản đối với dệt may Trung Quốc; Sangeeta Khorana nghiên cứu đề tài "Barriers to exporting to the EU: evidence from textiles and leather goods firms in India" phân tích rào cản đối với hàng dệt may và da giày của các công ty Ấn Độ khi xuất khẩu sang EU.

Về nghiên cứu trong nước, luận án tổng thuật các công trình theo ba nhóm nội dung:

  • Về lý luận, khái niệm và phân loại: Báo cáo đề tài cấp Bộ của TS. Nguyễn Thị Mão (2001) về hệ thống RCKT và giải pháp của doanh nghiệp Việt Nam; đề tài cấp Bộ của TS. Bùi Thị Lý (2005) về giải pháp vượt RCKT sang thị trường các nước phát triển; đề tài cấp Bộ của Hoàng Thị Vân Anh (2009) về TBT Nhật Bản đối với nông lâm thủy sản; Luận án tiến sĩ của TS. Đào Thị Thu Giang (2009) về các biện pháp vượt rào cản phi thuế quan; các công trình của PGS.TS. Đinh Văn Thành (2004, 2005) về rào cản thương mại và biện pháp phi thuế quan đối với nông sản; công trình của GS.TS. Đỗ Đức Bình và Bùi Huy Nhượng (2009) về đáp ứng rào cản phi thuế quan cho hàng thủy sản; các giáo trình Thương mại quốc tế của Đinh Thị Liên và Đoàn Thị Mỹ Hạnh (2009), Nguyễn Văn Tuấn (2010).
  • Về thực trạng và năng lực vượt rào: Các công trình của Nguyễn Thị Mão (2001) chỉ ra việc áp dụng ISO 9000, TQM, HACCP còn hạn chế do chi phí và nhân lực; Bùi Thị Lý (2005) chỉ rõ quy định RCKT tại Mỹ, EU, Nhật Bản; Đào Thị Thu Giang (2009) phân tích điểm yếu về nguyên liệu, công nghệ, nhân lực và sự liên kết công - tư của doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam; các bài viết của GS.TS. Đỗ Đức Bình về rào cản môi trường sang EU, TS. Nguyễn Hoàng (2010) về rào cản kỹ thuật khi xuất khẩu sang Mỹ.
  • Về giải pháp vượt rào cản: Các bài viết chuyên ngành của Nguyễn Kim Định (2006), Nguyễn Hoàng (2010), Nguyễn Xuân Minh (2011), Trần Quốc Trung (2011) đề xuất các biện pháp nâng cao tiêu chuẩn, tăng cường hợp tác và thông tin thị trường.

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết gồm:

  • Trước thời điểm nghiên cứu, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên sâu và toàn diện về RCKT đối với riêng mặt hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam.
  • Các công trình trước thường đồng nhất RCKT với các biện pháp kỹ thuật, nhìn nhận RCKT mang tính tiêu cực, phi lý mà chưa thấy được tính chất khách quan, hợp lý của các tiêu chuẩn kỹ thuật khoa học buộc các quốc gia phải tuân thủ.
  • Chưa có công trình nào làm rõ các phương thức vượt RCKT và các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực vượt rào của hàng dệt may xuất khẩu từ cả hai góc độ Nhà nước và doanh nghiệp.
  • Các nghiên cứu chưa cập nhật đầy đủ những diễn biến mới trong thương mại quốc tế đối với ngành dệt may, cụ thể là các tiêu chuẩn về trách nhiệm xã hội (SA 8000, WRAP), tiêu chuẩn môi trường (nhãn sinh thái, PPMs) và đặc biệt là quy định về nguồn gốc xuất xứ ngặt nghèo trong đàm phán các FTA thế hệ mới như TPP ("từ sợi trở đi").

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở lý thuyết thương mại quốc tế, các nguyên tắc pháp lý của WTO và Hiệp định về Hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (TBT). Tác giả phân tích các định nghĩa về RCKT theo cách tiếp cận của Hiệp định TBT (gồm quy định kỹ thuật, tiêu chuẩn và thủ tục đánh giá sự phù hợp), định nghĩa của các nhà kinh tế học Thornsbusy, Robert và DeRemer, và định nghĩa của OECD (1997). Từ đó, tác giả đưa ra định nghĩa riêng: Rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế là những quy định, tiêu chuẩn, biện pháp kỹ thuật do nước nhập khẩu đặt ra nhằm ngăn cản những hàng hóa và dịch vụ của nước ngoài không đáp ứng được yêu cầu vào thị trường nước nhập khẩu. Luận án phân định rõ rào cản hợp lý (khoa học, khách quan, bảo vệ sức khỏe và môi trường) với rào cản phi lý (áp đặt, bảo hộ quá mức cần thiết, bóp méo thương mại).

Về phân loại RCKT, tác giả tổng hợp cách phân loại theo công cụ chính sách, theo phạm vi áp dụng, theo mục đích quản lý và cách phân loại của Bộ Công thương (gồm 6 yếu tố: quy định kỹ thuật và tiêu chuẩn; thủ tục đánh giá sự phù hợp; quy định đóng gói bao bì; dán nhãn sinh thái; phương pháp sản xuất PPMs; yêu cầu của người tiêu dùng). Từ góc độ doanh nghiệp và bối cảnh hội nhập dệt may, tác giả đề xuất khung phân loại riêng gồm 6 nhóm RCKT đối với hàng dệt may:

  1. Quy định và tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm;
  2. Quy định và tiêu chuẩn về an toàn cho người sử dụng;
  3. Quy định và tiêu chuẩn về môi trường;
  4. Quy định và tiêu chuẩn về trách nhiệm xã hội;
  5. Quy định và tiêu chuẩn về ghi nhãn sản phẩm;
  6. Quy định về nguồn gốc xuất xứ hàng hóa.

Về phương pháp nghiên cứu thực tế, luận án áp dụng hướng tiếp cận định tính kết hợp điều tra khảo sát thực tiễn doanh nghiệp:

  • Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Xem xét bản chất và mối quan hệ biện chứng giữa RCKT với tình hình xuất khẩu dệt may Việt Nam.
  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu và thu thập dữ liệu thứ cấp: Tiếp cận, thu thập và đối chiếu dữ liệu từ Bộ Công thương, Văn phòng TBT Việt Nam, Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex), Viện Dệt may Việt Nam, các báo cáo phân tích ngành thường niên và các ấn phẩm khoa học. Dữ liệu được kiểm tra tính chính xác, thích hợp và thời sự trước khi đưa vào phân tích.
  • Phương pháp điều tra khảo sát: Tiến hành khảo sát điển hình các doanh nghiệp dệt may Việt Nam tại một số tỉnh, thành phố thuộc các vùng dệt may trọng điểm. Nội dung điều tra thu thập thông tin về: loại hình doanh nghiệp, lý do quan tâm quy định xuất khẩu, mức độ nhận biết RCKT, mức độ khó khăn khi đối mặt với RCKT tại Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, thực trạng đáp ứng các tiêu chuẩn, mức độ hỗ trợ từ cơ quan nhà nước và các kiến nghị của doanh nghiệp.
  • Phương pháp so sánh, tổng hợp và phương pháp chuyên gia: So sánh kinh nghiệm vượt rào của các quốc gia xuất khẩu dệt may lớn (Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan); lấy ý kiến chuyên gia đầu ngành nhằm tối ưu hóa các phân tích dự báo và đề xuất giải pháp.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về rào cản kỹ thuật và vượt rào cản kỹ thuật trong xuất khẩu hàng dệt may

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về RCKT trong thương mại quốc tế và đặc thù đối với ngành dệt may. Tác giả phân tích bản chất của RCKT, chỉ rõ sự khác biệt giữa biện pháp kỹ thuật hợp pháp với RCKT mang tính bảo hộ; đồng thời phân tích tác động hai mặt của RCKT đối với cả nước xuất khẩu và nước nhập khẩu:

  • Đối với nước xuất khẩu: Tác động tích cực là thúc đẩy nâng cao chất lượng sản phẩm, đổi mới công nghệ quản lý, cải thiện môi trường làm việc và điều kiện của người lao động; tác động tiêu cực là làm gia tăng chi phí sản xuất, chi phí thử nghiệm, giám định, đối mặt với rủi ro bị từ chối nhập khẩu, trả hàng hoặc tiêu hủy khi vi phạm tiêu chuẩn.
  • Đối với nước nhập khẩu: RCKT bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng, bảo vệ môi trường sinh thái và bảo hộ sản xuất nội địa; tuy nhiên cũng làm giảm sự lựa chọn của người tiêu dùng, giảm tính cạnh tranh của nền sản xuất trong nước và tiềm ẩn nguy cơ chịu các biện pháp trả đũa thương mại.

Chương này đi sâu làm rõ đặc điểm và nội dung của 6 nhóm RCKT áp dụng cho hàng dệt may:

  1. Tiêu chuẩn chất lượng: Phổ biến là hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 (gồm ISO 9001, 9002, 9003 hoặc ISO 9000:2000).
  2. An toàn cho người sử dụng: Quy chuẩn kiểm soát và cấm các hóa chất độc hại gây ung thư hoặc dị ứng, gồm các amin thơm (liên quan đến thuốc nhuộm azo), kim loại nặng (chì, cadimi, crom, thủy ngân, niken), hợp chất hữu cơ thiếc (MBT, TBT, TPhT), hợp chất chứa clo (clobenzen, clotoluen), chất làm chậm cháy (PBBs, Peta-BDE, octo-BDE), focmaldehyt, phtalat (DEHP, DINP), hàm lượng chì trong sơn phủ và tính dễ cháy của sản phẩm dệt may trẻ em.
  3. Tiêu chuẩn môi trường: Hệ thống quản lý môi trường ISO 14000 (ISO 14001, ISO 14004), quy định về phương pháp sản xuất và chế biến (PPMs), quy định đóng gói bao bì tái sinh và dán nhãn sinh thái theo phương pháp đánh giá vòng đời sản phẩm.
  4. Tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội: Tiêu chuẩn SA 8000 của Tổ chức Quốc tế về Trách nhiệm Xã hội (SAI) với các nội dung về cấm lao động trẻ em, cấm lao động cưỡng bức, an toàn sức khỏe, tự do công đoàn, giờ làm việc và tiền lương; Tiêu chuẩn WRAP gồm 12 nguyên tắc quản lý sản xuất dệt may; các công ước của ILO.
  5. Quy định ghi nhãn hàng hóa: Các đạo luật kiểm soát nhãn mác của Hoa Kỳ như TFPIA (nhận dạng sản phẩm dệt), WPLA (sản phẩm len), FPLA (bao gói và dán nhãn); yêu cầu nhãn bằng vải đính kèm sản phẩm bằng tiếng Anh; các quy chuẩn về nhãn hướng dẫn sử dụng và chăm sóc sản phẩm tại EU và Nhật Bản.
  6. Quy định về xuất xứ: Các quy tắc xuất xứ ưu đãi theo GSP, FTA và quy tắc xuất xứ ngặt nghèo trong đàm phán TPP ("từ sợi trở đi" - yarn forward).

Về kinh nghiệm quốc tế, chương này phân tích thực tiễn vượt RCKT của ba quốc gia xuất khẩu dệt may lớn:

  • Trung Quốc: Nhà nước thiết lập hệ thống cảnh báo sớm TBT, chủ động xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật phù hợp với chuẩn quốc tế, hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp đổi mới thiết bị nhuộm và hoàn tất; doanh nghiệp chủ động liên kết theo cụm ngành và đa dạng hóa thị trường.
  • Ấn Độ: Tập trung cải thiện điều kiện lao động, hiện đại hóa chuỗi cung ứng sợi - dệt - may, kiểm soát chặt chẽ hóa chất nhuộm nhằm đáp ứng quy định REACH của EU.
  • Thái Lan: Chuyển dịch mạnh mẽ từ gia công cấp thấp sang hàng may mặc giá trị gia tăng cao, áp dụng nhãn sinh thái và nhãn chất lượng riêng của Thái Lan để định vị thương hiệu. Từ đó, tác giả đúc kết các bài học thành công có thể vận dụng cho Việt Nam (nâng cao năng lực cảnh báo sớm của Nhà nước, hỗ trợ vốn đổi mới công nghệ, khuyến khích doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội) và những bài học không nên vận dụng (tránh duy trì phương thức gia công thuần túy, không dựa vào lao động giá rẻ mà lơ là điều kiện an toàn lao động).

Chương 2: Thực trạng rào cản kỹ thuật đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam và các biện pháp áp dụng để vượt rào cản

Chương 2 tập trung phân tích số liệu xuất khẩu dệt may giai đoạn 2007 - 2013, thực trạng quy định RCKT tại 3 thị trường trọng điểm và kết quả khảo sát năng lực vượt rào của doanh nghiệp Việt Nam.

Quy mô và chuyển dịch thị trường xuất khẩu dệt may Việt Nam giai đoạn 2007 - 2013 được tổng hợp qua số liệu văn bản:

Chỉ tiêu / Thị trường Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may 14,04 tỷ USD 15,10 tỷ USD 20,02 tỷ USD
Tốc độ tăng trưởng so với năm trước - 7,5% 32,6%
Tỷ trọng trong tổng kim ngạch XK cả nước - Trên 13% -
Thị phần 3 thị trường chính (Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản) ~70% ~70% ~70%

Nguồn: Trích dẫn số liệu từ Luận án (Phần Mở đầu và Danh mục bảng biểu Chương 2)

Về quy định RCKT tại ba thị trường nhập khẩu chủ lực:

  • Thị trường Hoa Kỳ: Đặt ra các rào cản khắt khe thông qua Ủy ban An toàn Sản phẩm Tiêu dùng (CPSC), Đạo luật Cải thiện An toàn Sản phẩm Tiêu dùng (CPSIA) kiểm soát chặt chẽ hàm lượng chì, phtalat trong quần áo trẻ em, tiêu chuẩn bắt cháy đối với quần áo ngủ; hệ thống luật dán nhãn TFPIA, WPLA; quy định xuất xứ không ưu đãi của Hải quan Hoa Kỳ và yêu cầu xuất xứ "từ sợi trở đi" trong đàm phán TPP.
  • Thị trường EU: Áp dụng hệ thống quy định REACH kiểm soát toàn diện việc sử dụng hóa chất và các amin thơm từ thuốc nhuộm azo; nhãn sinh thái EU Ecolabel; tiêu chuẩn dệt may sinh thái Oeko-Tex Standard 100; các yêu cầu nghiêm ngặt về trách nhiệm xã hội và môi trường của các nhà bán lẻ châu Âu.
  • Thị trường Nhật Bản: Kiểm soát theo Đạo luật Vệ sinh Đồ gia dụng (kiểm soát dư lượng focmaldehyt, hóa chất chống cháy), Tiêu chuẩn Công nghiệp Nhật Bản (JIS) với các dấu chứng nhận chất lượng nghiêm ngặt; yêu cầu khắt khe về kỹ thuật may, đường kim mũi chỉ, độ bền màu và quy trình rà soát kim gãy 100% trong thành phẩm may mặc.

Về thực trạng vượt rào cản kỹ thuật của Việt Nam:

  • Từ phía cơ quan quản lý Nhà nước: Đã hình thành mạng lưới Văn phòng TBT Việt Nam; rà soát, hài hòa hệ thống tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) với chuẩn quốc tế; triển khai các chương trình xúc tiến thương mại quốc gia và hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thông tin thị trường.
  • Từ phía doanh nghiệp dệt may: Nhiều doanh nghiệp đã chủ động xây dựng và áp dụng các hệ thống quản lý ISO 9000, ISO 14000, đạt chứng nhận trách nhiệm xã hội SA 8000, chứng chỉ WRAP, cải thiện môi trường và điều kiện làm việc cho người lao động.

Đánh giá từ kết quả điều tra, khảo sát thực tế của luận án (thể hiện qua các bảng biểu khảo sát Bảng 2.3 đến Bảng 2.9):

  • Mức độ nhận biết và quan tâm của doanh nghiệp đối với các quy định kỹ thuật đã có chuyển biến tích cực, đặc biệt tại các thị trường lớn do yêu cầu bắt buộc từ nhà mua hàng quốc tế.
  • Khó khăn lớn nhất mà các doanh nghiệp dệt may đối mặt là thiếu thông tin cập nhật về các thay đổi TBT, chi phí đầu tư chuyển đổi công nghệ xử lý nước thải và xét nghiệm hóa chất quá cao, thiếu hụt đội ngũ chuyên gia am hiểu luật pháp thương mại quốc tế.
  • Hạn chế căn bản: Ngành dệt may Việt Nam vẫn chủ yếu thực hiện gia công cắt - may (CMT), công đoạn tạo giá trị gia tăng thấp nhất; phụ thuộc vào nguồn vải và phụ liệu nhập khẩu (chiếm tỷ trọng lớn từ các nước ngoài TPP), dẫn đến nguy cơ không đáp ứng được quy tắc xuất xứ để hưởng thuế suất ưu đãi; vẫn còn tình trạng một số lô hàng bị đối tác cảnh cáo hoặc trả về do không đạt tiêu chuẩn an toàn hóa chất và dư lượng chất cấm.

Chương 3: Quan điểm, phương hướng và giải pháp vượt rào cản kỹ thuật để đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam đến năm 2020

Chương 3 dự báo xu hướng phát triển của RCKT trên thế giới đến năm 2020: các nước tiếp tục gia tăng bảo hộ phi thuế quan; các rào cản kỹ thuật có xu hướng chuyển dịch mạnh từ kiểm tra sản phẩm đơn lẻ sang kiểm soát toàn bộ chuỗi cung ứng (phương pháp sản xuất sạch hơn, bảo vệ môi trường, trách nhiệm xã hội, truy xuất nguồn gốc minh bạch).

Dựa trên bối cảnh đó, tác giả xác lập 4 quan điểm định hướng vượt RCKT:

  1. Coi việc vượt qua RCKT là yêu cầu tất yếu khách quan để nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững ngành dệt may xuất khẩu.
  2. Kết hợp chặt chẽ vai trò định hướng, hỗ trợ của Nhà nước với vai trò chủ động, tích cực của doanh nghiệp dệt may.
  3. Chuyển dịch cơ cấu sản xuất từ gia công thuần túy sang các phương thức sản xuất có giá trị gia tăng cao hơn (FOB, ODM), gắn phát triển dệt may với công nghiệp hỗ trợ.
  4. Chủ động tham gia và tận dụng các thiết chế thương mại đa phương và song phương để bảo vệ lợi ích chính đáng của hàng dệt may Việt Nam, đấu tranh chống các rào cản phi lý.

Tác giả đề xuất 2 nhóm định hướng lớn:

  • Định hướng từ phía Nhà nước: Hoàn thiện thể chế chính sách, phát triển hạ tầng kỹ thuật đánh giá sự phù hợp, xây dựng quy hoạch vùng nguyên phụ liệu.
  • Định hướng từ phía doanh nghiệp: Tái cấu trúc quy trình quản trị, đầu tư công nghệ hiện đại, xây dựng chuỗi cung ứng khép kín.

Hệ thống giải pháp chủ yếu được chia thành hai khối:

  1. Khối giải pháp chung vượt rào cản:
  • Đối với cơ quan quản lý Nhà nước: Nâng cao năng lực hoạt động của mạng lưới cơ quan hỏi đáp TBT; đầu tư hiện đại hóa các phòng thử nghiệm, kiểm định đạt chuẩn quốc tế để cấp chứng nhận được các thị trường lớn thừa nhận lẫn nhau; ban hành chính sách ưu đãi tín dụng, đất đai để thu hút đầu tư vào khâu dệt, nhuộm, xử lý nước thải nhằm phát triển công nghiệp hỗ trợ; chủ động đàm phán trong các FTA/TPP để có các quy tắc xuất xứ linh hoạt.
  • Đối với Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS) và VCCI: Đẩy mạnh vai trò cầu nối cung cấp thông tin cảnh báo TBT nhanh chóng cho doanh nghiệp; tổ chức đào tạo chuyên sâu về tiêu chuẩn kỹ thuật; hỗ trợ pháp lý và đại diện bảo vệ quyền lợi hội viên trong các tranh chấp kỹ thuật.
  • Đối với doanh nghiệp dệt may: Chủ động chuyển đổi phương thức sản xuất từ gia công (CMT) sang mua nguyên liệu bán thành phẩm (FOB) và tự thiết kế (ODM); thiết lập hệ thống kiểm soát chất lượng nội bộ nghiêm ngặt; đào tạo nâng cao trình độ kỹ thuật và nhận thức TBT cho đội ngũ quản lý và người lao động.
  1. Khối giải pháp vượt từng loại rào cản kỹ thuật cụ thể (ứng với 6 nhóm RCKT):
  • Vượt rào cản về chất lượng: Triển khai áp dụng toàn diện hệ thống ISO 9000 phiên bản cập nhật, quản lý chất lượng đồng bộ từ khâu chọn nguyên liệu đến đóng gói.
  • Vượt rào cản về an toàn cho người sử dụng: Thiết lập danh mục kiểm soát các chất cấm (thuốc nhuộm azo, focmaldehyt, chì, phtalat); hợp tác với các nhà cung ứng hóa chất uy tín có chứng nhận an toàn; kiểm tra định kỳ mẫu vải và phụ liệu trước khi đưa vào chuyền may.
  • Vượt rào cản về môi trường: Áp dụng hệ thống ISO 14001; đầu tư hệ thống xử lý nước thải công nghệ sinh học tại các cơ sở dệt nhuộm; sử dụng vật liệu đóng gói tự phân hủy hoặc tái chế; tiến tới đăng ký nhãn sinh thái phù hợp với từng thị trường.
  • Vượt rào cản về trách nhiệm xã hội: Áp dụng bộ quy tắc ứng xử SA 8000 và tiêu chuẩn WRAP; cải thiện môi trường làm việc, đảm bảo an toàn vệ sinh lao động, thực hiện đúng các quy định về tiền lương, giờ làm việc và bảo hiểm xã hội theo chuẩn mực quốc tế và pháp luật Việt Nam.
  • Vượt rào cản về ghi nhãn: Nắm vững và thực hiện nghiêm ngặt các quy định ghi nhãn TFPIA, WPLA tại Hoa Kỳ và nhãn chăm sóc tại EU, Nhật Bản; đảm bảo nhãn bằng vải đính chắc chắn, nội dung ghi bằng tiếng Anh đầy đủ thông tin về thành phần sợi, xuất xứ và hướng dẫn giặt là.
  • Vượt rào cản về xuất xứ hàng hóa: Quy hoạch phát triển vùng sản xuất xơ, sợi, dệt, nhuộm trong nước để chủ động nguồn nguyên liệu; hình thành liên kết chuỗi giữa các doanh nghiệp sợi - dệt - may để đáp ứng quy tắc xuất xứ "từ sợi trở đi" trong TPP và các cam kết FTA.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định 5 đóng góp mới về lý luận và thực tiễn:

  1. Cách tiếp cận mới mang tính tích cực: Thay vì nhìn nhận RCKT theo hướng tiêu cực, phi lý như phần lớn các công trình trước đây, luận án tiếp cận RCKT theo hướng tích cực, coi đây là các quy định, tiêu chuẩn hợp lý, khoa học buộc các quốc gia và doanh nghiệp xuất nhập khẩu phải tuân thủ; phân tích đa chiều từ hai phía (nước đặt ra rào cản và nước chịu tác động) trên cả bình diện vĩ mô (Nhà nước) và vi mô (doanh nghiệp).
  2. Hệ thống hóa và bổ sung lý luận về RCKT trong ngành dệt may: Luận giải rõ khái niệm RCKT dệt may; đề xuất cách phân loại 6 nhóm RCKT đặc thù cho hàng dệt may xuất khẩu; đề xuất mô hình và phương thức vượt rào theo hướng tôn trọng lợi ích đối tác; phân tích xác thực các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực vượt rào của quốc gia xuất khẩu.
  3. Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế có đối chứng: Phân tích kinh nghiệm vượt RCKT của Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan từ cả hai góc độ Nhà nước và doanh nghiệp, rút ra bài học thành công có thể vận dụng và bài học cần tránh đối với Việt Nam.
  4. Đánh giá toàn diện thực trạng và năng lực vượt rào của Việt Nam: Đánh giá thực trạng áp dụng RCKT của 3 thị trường lớn (Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản) và tác động của chúng đối với dệt may Việt Nam giai đoạn 2007 - 2013; phân tích kết quả điều tra khảo sát doanh nghiệp, chỉ rõ thành tựu, các điểm yếu và nguyên nhân cốt lõi của những hạn chế trong thực thi các biện pháp vượt rào.
  5. Đề xuất hệ thống quan điểm, định hướng và giải pháp có căn cứ khoa học: Xây dựng 4 quan điểm định hướng; đề xuất 2 nhóm định hướng chiến lược (từ phía Nhà nước và doanh nghiệp); xây dựng hệ sinh thái giải pháp đồng bộ gồm các giải pháp chung (Nhà nước, Hiệp hội, Doanh nghiệp) và các giải pháp chi tiết cho từng loại trong 6 nhóm RCKT đối với hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam đến năm 2020.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, văn bản luận án xác định phạm vi nghiên cứu tập trung chủ yếu vào 3 thị trường nhập khẩu lớn nhất (Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản) do 3 thị trường này chiếm khoảng 70% kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam, chưa mở rộng phân tích chuyên sâu các thị trường tiềm năng khác như Hàn Quốc, Liên minh Kinh tế Á - Âu hay các nước trong khối ASEAN. Phương pháp điều tra khảo sát được tiến hành theo phương thức chọn mẫu điển hình tại một số địa bàn tập trung công nghiệp dệt may, chưa bao phủ toàn bộ mọi quy mô doanh nghiệp tư nhân nhỏ trên toàn quốc. Thêm vào đó, tại thời điểm hoàn thành nghiên cứu (năm 2014), một số hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như TPP hay EVFTA vẫn đang trong tiến trình đàm phán, nên các phân tích về quy tắc xuất xứ "từ sợi trở đi" chủ yếu dừng ở mức độ dự báo và đánh giá tác động tiềm năng.

Hướng nghiên cứu tiếp xuất phát từ các hạn chế trên bao gồm:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các thị trường xuất khẩu mới nổi ngoài 3 thị trường truyền thống nhằm đánh giá tính đa dạng của hệ thống TBT.
  • Cập nhật và lượng hóa tác động thực tế của quy tắc xuất xứ và các cam kết lao động, môi trường sau khi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (CPTPP, EVFTA) chính thức có hiệu lực và đi vào thực thi.
  • Ứng dụng các mô hình kinh tế lượng để đo lường chính xác chi phí tuân thủ RCKT đối với từng nhóm mặt hàng dệt may cụ thể của Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Công thương, Văn phòng TBT Việt Nam, cơ quan xúc tiến thương mại): Tham khảo phần đánh giá thực trạng chính sách và hệ thống giải pháp vĩ mô tại Chương 3 để hoàn thiện khung thể chế, nâng cấp hệ thống cảnh báo sớm TBT, đầu tư phòng thử nghiệm đạt chuẩn quốc tế và chuẩn bị phương án đàm phán trong các hiệp định thương mại.
  • Hiệp hội ngành hàng (Hiệp hội Dệt may Việt Nam - VITAS, VCCI): Vận dụng các phát hiện khảo sát tại Chương 2 và đề xuất giải pháp tại Chương 3 để nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, đào tạo tiêu chuẩn kỹ thuật và hỗ trợ doanh nghiệp hội viên liên kết chuỗi sản xuất.
  • Doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu dệt may: Tham khảo hướng dẫn chi tiết về 6 nhóm RCKT tại Chương 1 và các giải pháp vi mô tại Chương 3 để rà soát quy trình quản lý chất lượng (ISO 9000), môi trường (ISO 14000), hóa chất an toàn (REACH, CPSIA), trách nhiệm xã hội (SA 8000, WRAP) và ghi nhãn sản phẩm đúng luật pháp nước nhập khẩu.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Thương mại, Kinh tế quốc tế: Sử dụng luận án như tài liệu tham khảo chuyên khảo về rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế, phương pháp khảo sát doanh nghiệp và phân tích tác động chính sách phi thuế quan.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân loại hệ thống rào cản kỹ thuật đối với hàng dệt may xuất khẩu thành những nhóm cụ thể nào? Tác giả đề xuất khung phân loại gồm 6 nhóm rào cản kỹ thuật chính đối với hàng dệt may: (1) Quy định và tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm (bộ tiêu chuẩn ISO 9000); (2) Quy định và tiêu chuẩn về an toàn cho người sử dụng (kiểm soát các amin thơm từ thuốc nhuộm azo, kim loại nặng, focmaldehyt, phtalat, tính dễ cháy); (3) Quy định và tiêu chuẩn về môi trường (ISO 14000, phương pháp sản xuất PPMs, quy định bao bì và nhãn sinh thái); (4) Quy định và tiêu chuẩn về trách nhiệm xã hội (tiêu chuẩn SA 8000 của SAI, tiêu chuẩn WRAP, tiêu chuẩn ILO); (5) Quy định và tiêu chuẩn về ghi nhãn hàng dệt may (các luật TFPIA, WPLA của Mỹ, nhãn hướng dẫn chăm sóc sản phẩm); (6) Quy định về nguồn gốc xuất xứ hàng hóa (ưu đãi GSP, quy tắc xuất xứ "từ sợi trở đi" trong TPP).

2. Tại sao quy tắc xuất xứ hàng hóa, đặc biệt là quy tắc "từ sợi trở đi", lại được luận án xem xét như một rào cản kỹ thuật mới? Luận án chỉ ra rằng quy tắc xuất xứ được thiết kế để xác định hàng hóa có đủ điều kiện hưởng thuế quan ưu đãi hay không. Tuy nhiên, quy định "từ sợi trở đi" (yarn forward) trong đàm phán TPP đòi hỏi toàn bộ các công đoạn từ kéo sợi, dệt vải, nhuộm hoàn tất đến may mặc đều phải thực hiện trong nội khối các nước thành viên. Đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, năng lực sản xuất nguyên phụ liệu trong nước còn yếu, phần lớn vải và phụ liệu phải nhập khẩu từ các nước ngoài TPP. Do đó, các tiêu chuẩn xuất xứ phức tạp, khắt khe và thiếu linh hoạt này đã trở thành một rào cản kỹ thuật gián tiếp nhưng rất lớn, ngăn cản hàng dệt may xuất khẩu tiếp cận mức thuế quan ưu đãi 0%.

3. Hạn chế cốt lõi của ngành dệt may Việt Nam giai đoạn 2007 - 2013 khi đối mặt với rào cản kỹ thuật là gì? Hạn chế lớn nhất được luận án chỉ ra là phương thức sản xuất chủ yếu vẫn là gia công (CMT), chỉ tham gia vào công đoạn may cuối cùng của chuỗi giá trị toàn cầu. Doanh nghiệp phụ thuộc lớn vào mẫu mã và nguồn nguyên phụ liệu nhập khẩu của khách hàng, giá trị gia tăng nội địa thấp. Tình trạng này khiến doanh nghiệp thụ động trong việc kiểm soát các tiêu chuẩn kỹ thuật đối với nguyên liệu đầu vào, gặp nhiều khó khăn khi đáp ứng quy tắc xuất xứ ngặt nghèo và chịu rủi ro cao khi các thị trường nhập khẩu kiểm tra hàm lượng hóa chất tồn dư.

4. Thị trường Hoa Kỳ và EU áp dụng các quy định kỹ thuật nghiêm ngặt nào đối với hóa chất và an toàn sản phẩm dệt may? Tại Hoa Kỳ, Đạo luật Cải thiện An toàn Sản phẩm Tiêu dùng (CPSIA) kiểm soát chặt chẽ hàm lượng chì trong bề mặt phủ và cấm các chất phtalat (DEHP, DINP) trong sản phẩm dệt may trẻ em, đồng thời áp dụng tiêu chuẩn chống cháy bắt buộc đối với quần áo ngủ. Tại EU, quy chế REACH kiểm soát toàn diện việc đăng ký, đánh giá và cấp phép hóa chất, cấm tuyệt đối các amin thơm phát sinh từ thuốc nhuộm azo có nguy cơ gây ung thư, đồng thời khuyến khích áp dụng các tiêu chuẩn dệt may sinh thái Oeko-Tex Standard 100 và nhãn sinh thái EU Ecolabel.

5. Luận án đề xuất những giải pháp chung nào đối với doanh nghiệp dệt may Việt Nam nhằm vượt rào cản kỹ thuật? Tác giả đề xuất doanh nghiệp dệt may cần chủ động thực hiện 4 nhóm giải pháp chung: (1) Chuyển dịch nhanh chóng phương thức sản xuất từ gia công CMT sang FOB (tự mua nguyên liệu, sản xuất) và ODM (tự thiết kế mẫu); (2) Áp dụng đồng bộ các hệ thống quản lý chất lượng (ISO 9000), môi trường (ISO 14000) và trách nhiệm xã hội (SA 8000, WRAP); (3) Tăng cường kiểm soát chất lượng nguyên phụ liệu đầu vào và kiểm tra dư lượng hóa chất độc hại trước khi xuất khẩu; (4) Đào tạo nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cán bộ kỹ thuật, thường xuyên cập nhật thông tin về các thay đổi quy định TBT tại các thị trường nhập khẩu mục tiêu.

Kết luận

Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Phạm Thị Lụa là công trình khoa học nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về rào cản kỹ thuật đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn hội nhập sau khi gia nhập WTO. Tác giả đã xác lập cách tiếp cận tích cực đối với rào cản kỹ thuật, xây dựng khung lý luận gồm 6 nhóm rào cản đặc thù và sử dụng dữ liệu thực tế kết hợp khảo sát doanh nghiệp để phân tích sâu sắc thực trạng đáp ứng tại Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản giai đoạn 2007 - 2013. Các nhóm giải pháp vĩ mô và vi mô được đề xuất đồng bộ theo 4 quan điểm định hướng đã cung cấp cơ sở khoa học thực tiễn vững chắc nhằm hỗ trợ các cơ quan quản lý nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp nâng cao năng lực vượt rào cản kỹ thuật, đẩy mạnh xuất khẩu dệt may Việt Nam bền vững đến năm 2020.