phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục thì nội dung chính của bài gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết về truyền thông Marketing. Chƣơng 2: Phân tích thực trạng hoạt động truyền thông của thƣơng hiệu G247mart của Công ty TNHH International Daily Goods. 16 Chƣơng 3: Giải pháp và đề xuất nhằm đẩy mạnh hiệu quả hoạt động truyền thông Marketing cho thƣơng hiệu G247mart năm 2023. PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TRUYỀN THÔNG 1.1 TỔNG QUAN VỀ TRUYỀN THÔNG 1.1 Khái niệm về truyền thông Truyền thông là quá trình chia sẻ thông tin giữa hai tác nhân tƣơng tác lẫn nhau, bao gồm hoạt động truyền đạt thông tin thông qua trao đổi ý tƣởng, cảm xúc, ý định, thái độ, mong đợi, nhận thức hoặc các lệnh, nhƣ ngôn ngữ, cử chỉ phi ngôn ngữ, chữ viết, hành vi và có thể qua các phƣơng tiện khác nhƣ thông qua điện từ, hóa chất, hiện tƣợng vật lý.
Truyền thông là phối thức trong tổ hợp Marketing Mix, mà có rất nhiều khái niệm khác nhau định nghĩa về phối thức này: “Truyền thông là quá trình truyền thông trong Marketing được thực hiện để tạo ra một khuynh hướng thuận lợi nhằm hướng khách hàng đến một thương hiệu sản phẩm hay dịch vụ, một ý tưởng hay thậm chí là một con người”. Hay “Truyền thông chính là những nỗ lực của doanh nghiệp để thông tin thuyết phục, nhắc nhở và khuyến khích khách hàng mua sản phẩm, cũng như hiểu rõ về doanh nghiệp” Có nhiều quan điểm cho rằng truyền thông cũng chính là truyền thông Marketing và họ đề cập vấn đề này theo các hƣớng nhƣ sau: “Truyền thông chính là những hoạt động 17 liên quan đến việc truyền đi những thông tin về tổ chức và sản phẩm tới khách hàng mục tiêu để thuyết phục họ mua và thiết lập, duy trì mối quan hệ bền vững với họ”– Theo GS.TS Trần Minh Đạo, giáo trình Marketing Căn Bản, nhà xuất bản đại học Kinh tế Quốc Dân. Trong cuốn marketing hiện đại của Lƣu Đan Thọ cũng có đề cập “Truyền thông là mối liên kết truyền thông giữa người bán và người mua. Các tổ chức sử dụng những cách thức khác nhau để đi gửi thông điệp về hàng hóa, dịch vụ và ý tưởng.
Họ cũng có thể truyền thông điệp trực tiếp qua người bán hàng, hoặc gián tiếp qua hoạt động quảng cáo hoặc khuyến mại” Còn theo Philip Kotler, “Truyền thông là các hoạt động truyền thông tin một cách gián tiếp về sản phẩm và bản thân doanh nghiệp tới khách hàng nhằm thuyết phục họ tin tưởng vào doanh nghiệp”. Còn rất nhiều khái niệm khác nhau theo các quan điểm khác nhau về truyền thông cổ động, tuy nhiên tất cả đều mang những điểm chung. Tóm lại có thể hiểu Truyền thông là một phần căn bản và không thể thiếu trong chuỗi hoạt động Marketing của doanh nghiệp, bao gồm những hoạt động truyền thông nhằm làm thay đổi lƣợng cầu trên những tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên tâm lý và thị hiếu của khách hàng. Nói một cách đơn giản, nó có thể đƣợc mô tả nhƣ là tất cả các thông điệp và phƣơng tiện truyền thông mà doanh nghiệp có thể triển khai để tiếp cận tới thị trƣờng tiềm năng của mình.
Truyền thông là các mục đích cơ bản là thông báo, thuyết phục và nhắc nhở đối tƣợng nhận thông tin về sản phẩm và phƣơng tiện của doanh nghiệp. Qua các nội dung thông điệp, doanh nghiệp thông báo cho khách hàng về sự có mặt của doanh nghiệp, của sản phẩm trên các thị trƣờng, thuyết phục họ về các ƣu việt của sản phẩm so với các sản phẩm cạnh tranh và nhắc nhở họ nhớ đến sản phẩm khi có nhu cầu. Những hoạt động truyền thông cổ động đƣợc thể hiện qua nhãn hiệu, bao bì, gian hàng trƣng bày, bán 18 hàng cá nhân, dịch vụ khách hàng, hội chợ, cuộc thi và các phƣơng tiện truyền tin (nhƣ báo chí, truyền hình, truyền thanh, áp phích, phƣơng tiện vận chuyển,…). Những hoạt động này do doanh nghiệp thực hiện hoặc do các tổ chức thông tin thực hiện dƣới định hƣớng của doanh nghiệp.
Những công cụ cơ bản đƣợc sử dụng để thực hiện mục tiêu truyền thông của tổ chức đƣợc đề cập đến nhƣ một phối thức truyền thông. Phối thức truyền thông (Promotional mix) là tổng hợp các công cụ truyền thông đƣợc công ty sử dụng đồng thời để tác động vào thị trƣờng mục tiêu. Theo Armstrong và Philip Kotler, truyền thông Marketing tích hợp (IMC – integrated Marketing communication) là những hoạt động truyền thông mang tính phối hợp và gắn bó chặt chẽ với nhau nhằm chuyển giao một thông điệp rõ ràng, nhất quán và thuyết phục về một tổ chức và những sản phẩm của tổ chức đó. Nhƣ vậy có thể nói mối quan hệ giữa truyền thông cổ động, phối thức truyền thông Marketing và IMC chính là quản lý việc sử dụng phối hợp các công cụ truyền thông một cách hợp lý đảm bảo tiến trình truyền thông đƣợc diễn ra thuận lợi khi đƣa thông điệp truyền thông truyền thông đến ngƣời và đúng lúc.2 VAI TRÕ CỦA TRUYỀN THÔNG Truyền thông không chỉ là một trong những thành tố chính trong phối thức Marketing mà nó còn rất cần thiết bổ sung vào sự thành công của ba yếu tố còn lại giá cả, sản phẩm và phân phối.
a) Vai trò truyền thông đến sản phẩm: Sản phẩm là yếu tố bị ảnh hƣởng r ràng nhất, nó thể hiện r trong việc thể hiện nhãn hiệu sản phẩm. Một nhãn hiệu sẽ gặp rất nhiều bất lợi trong môi trƣờng cạnh tranh nếu không có sự hỗ trợ của các phƣơng tiện truyền thông. Truyền thông có các vai trò đối với phối thức sản phẩm nhƣ sau: - Vai trò thông tin và sự thuyết phục: Đây là vai trò nền tảng liên quan đến việc 19 quản trị nhãn hiệu thông qua các công cụ truyền thông khác nhau nhƣ quảng cáo, khuyến mại, bán hàng cá nhân,… Tất cả thông tin truyền đi nhằm thuyết phục khách hàng về những giá trị của nhãn hiệu cần cung cấp. - Vai trò giới thiệu nhãn hiệu mới hay mở rộng nhãn hiệu: Cung cấp thông tin cho thị trƣờng về một sản phẩm mới hay mở rộng thêm nhãn hiệu.
Giai đoạn này thƣờng sử dụng công cụ khuyến mãi, các cuộc triển lãm hay các công công cụ quảng cáo để giới thiệu giá trị đặc tính mới của sản phẩm đến với khách hàng - Xây dựng và duy trì lòng trung thành với nhãn hiệu thƣơng mại: Các chính sách hỗ trợ sẽ đƣợc đƣa ra đối với các nhà bán sỉ, bán lẻ hoặc các chƣơng trình hấp dẫn cho khách hàng thƣờng xuyên với mục đích xây dựng lòng trung thành của các khách hàng này đối với nhãn hiệu của doanh nghiệp. - Xây dựng và duy trì lòng trung thành của ngƣời tiêu dùng với sản phẩm: Tất cả các công cụ truyền thông mà công ty sử dụng sẽ giúp công ty xây dựng và duy trì sự ổn định danh tiếng của nhãn hiệu trên thị trƣờng. Điều đó sẽ giúp khách hàng dễ nhận biết sản phẩm và tạo ra sự liên tƣởng trong tâm trí ngƣời tiêu dùng. b) Vai trò của truyền thông đến giá cả: Ngƣời tiêu dùng thƣờng mong đợi nhiều về những đặc điểm của sản phẩm thông qua giá cả về sản phẩm, liệu có cân xứng giữa giá trị của sản phẩm mang lại so với giá tiền đã bỏ ra để sở hữu.
Do đó công cụ truyền thông sẽ cung cấp thông tin phù hợp với những nhu cầu của khách hàng mục tiêu. Quảng cáo, khuyến mại có thể cung cấp thông tin về những đặc điểm nổi bật của sản phẩm và cơ hội sở hữu sản phẩm với mức giá hời. Đó là cách giúp khách hàng tin hơn vào số tiền mình bỏ ra và chất lƣợng mình nhận lại, thúc đẩy hoạt động tiêu thụ sản phẩm. Truyền thông còn ảnh hƣởng đến việc định giá trong thị trƣờng thƣơng mại, những ngƣời làm thị trƣờng sẽ sắp xếp giá cả, chính sách chiết khấu làm sao để các trung gian trong kênh phân phối – những nhà bán sỉ, bán lẻ sẽ tìm thấy sự hấp dẫn về giá.
20 c) Ảnh hƣởng của truyền thông đến việc phân phối: Hiệu quả của truyền thông cổ động trong phân phối, phần lớn có liên quan đến phối hợp an toàn ở mức độ mua và bán. Chiến lƣợc truyền thông có thể ảnh hƣởng đến sự tiếp cận của sản phẩm của ngƣời tiêu dùng trong cửa hàng bán lẻ. Ngƣời tiêu dùng có sự thuận lợi trong việc tiếp cận nhãn hiệu là nhờ hoạt động truyền thông cổ động. Trƣng bày tại điểm mua hoặc điểm bán ở những cửa hàng bán lẻ sẽ kích thích ngƣời tiêu dùng mua sản phẩm nhiều hơn.
Việc truyền thông sẽ kích thích những trung gian gia tăng về chiều rộng của sự phân phối về nhãn hiệu vì thế nó sẽ ảnh hƣởng chính xác đến sự tiếp cận của ngƣời tiêu dùng. d) Vai trò truyền thông trong sự phân đoạn thị trƣờng, định vị sản phẩm Vai trò của truyền thông cổ động trong quá trình phân đoạn thị trƣờng là để phát triển thông tin và sử dụng các công cụ truyền thông kích thích những trung gian gia tăng về chiều rộng của sự phân phối về nhãn hiệu vì thế nó sẽ ảnh hƣởng chính xác đến sự tiếp cận của ngƣời tiêu dùng. e) Vai trò của truyền thông trong thu nhập và lợi nhuận hằng năm. Các kỹ thuật truyền thông giúp làm nổi bật các đặc điểm về giá cả, đặc trƣng sản phẩm và sự sẵn sàng của sản phẩm qua kênh phân phối, đã thuyết phục các khách hàng lựa chọn sản phẩm của doanh nghiệp thay vì các sản phẩm khác trên thị trƣờng.
Doanh số sẽ tăng lên khi đạt đƣợc hiệu quả kích thích khách hàng mua sản phẩm, thúc đẩy mua nhanh hơn và nhiều hơn nhờ chính sách truyền thông. Hiệu quả của lợi nhuận sẽ xảy ra khi truyền thông giúp công ty tạo ra sự trung thành nhãn hiệu của khách hàng và hiệu quả sản xuất theo quy mô.2 CÁC TIÊU CHÍ, NỘI DUNG CỦA HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG 1.1 Phân tích SWOT SWOT là tập hợp viết tắt những chữ cái đầu tiên của các từ tiếng Anh: Strengths (Điếm mạnh), Weaknesses (Điểm yếu), Opportunities (Cơ hội) và Threats (Nguy cơ). SWOT là công cụ rất hữu ích giúp tìm hiểu vấn đề hoặc ra quyết định trong việc tổ chức, quản lý cũng nhƣ trong kinh doanh. Nói một cách hình ảnh, SWOT là khung lý thuyết mà dựa vào đó, chúng ta có thế xét duyệt lại các chiến lƣợc, xác định vị thế cũng nhƣ hƣớng đi của một tổ chức, một công ty, phân tích các đề xuất kinh doanh hay bất cứ ý tƣởng nào liên quan đến quyền lợi của doanh nghiệp.