Chương 1: Lý luận chung về thông tin đối ngoại và quản lý thông tin đối ngoại trên sóng phát thanh Chương 2: Thực trạng quản lý thông tin đối ngoại trên sóng phát thanh của Đài TNVN Chương 3: Những vấn đề đặt ra và giải pháp quản lý thông tin đối ngoại trên sóng phát thanh của Đài TNVN. 11 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI VÀ QUẢN LÝ THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI TRÊN SÓNG PHÁT THANH 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Thông tin đối ngoại Ở Việt Nam, tại Chỉ thị số 10/2000/CT-TTg, ngày 26/4/2000, của Thủ tướng Chính phủ, có đưa ra quan niệm về thông tin đối ngoại: Thông tin i ngo i là một ộ phận r t qu n trọng ông tá i ngo i Đ ng, Nhà nướ t nhằm làm ho á nướ , người nướ ngoài ( o gồm người nướ ngoài ng sinh s ng ông tá t i Vi t N m), người Vi t N m ng sinh s ng và làm vi ở nướ ngoài hiểu v t nướ , on người Vi t N m, ường l i, h trương h nh sá h và thành tựu ổi mới t , trên ơ sở ó tr nh th sự ng hộ nhân dân thế giới, sự óng góp ộng ồng người Vi t N m ở nướ ngoài ho sự nghi p xây dựng và o v Tổ qu.
Nghị định 72/2015/NĐ-CP, được Chính phủ ban hành ngày 7/9/2015 định nghĩa: “Thông tin i ngo i o gồm thông tin h nh thứ v Vi t N m, thông tin qu ng á h nh nh Vi t N m và thông tin thế giới vào Vi t N m” Theo tác giả Phạm Minh Sơn: “Thông tin i ngo i là một ộ phận qu n trọng trong ông tá tư tưởng và i ngo i Đ ng, Nhà nướ và nhân dân t nhằm làm ho thế giới hiểu rõ ường l i, h nh sá h Đ ng, Nhà nướ , những thành tựu trong ông uộ ổi mới Vi t N m, t nướ , on người, lị h sử, văn hó , những giá trị vật h t và tinh thần dân tộ Vi t N m; u tr nh h ng l i những luận i u xuyên t , h ng phá Vi t N m; làm ho nhân dân t hiểu rõ v thế giới; ồng thời tr nh th sự ồng t nh, ng hộ, hợp tá , giúp ỡ n è qu tế, sự ồng thuận và óng góp ồng ào t ở nướ ngoài i với sự nghi p xây dựng và o v Tổ qu ” [56, tr. Từ những phân tích, tham chiếu ở trên, có thể đưa ra khái niệm chung nhất về thông tin i ngo i: Thông tin đối ngoại là việc sử dụng các loại hình báo chí (báo in, phát thanh, truyền hình, báo điện tử) để thông tin giới thiệu về 12 chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước; giới thiệu hình ảnh đất nước, con người, lịch sử, văn hóa, tiềm năng hợp tác và phát triển của Việt Nam; phản bác các thông tin sai, xuyên tạc, chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc…, đưa thông tin trong nước đến với bạn bè quốc tế và ngược lại, một cách thông suốt, chính xác, góp phần quảng bá và nâng cao vị thế đất nước.2 Phát thanh Đã có nhiều định nghĩa về phát thanh dưới nhiều góc độ tiếp cận. Báo phát thanh là loại hình báo chí sử dụng kĩ thuật sóng điện từ và hệ thống truyền thanh, truyền đi âm thanh, trực tiếp tác động vào thính giác của đối tượng tiếp nhận. (Học viện Báo chí và Tuyên truyền (2002), Báo phát thanh, NXB Văn hóa – Thông tin.
Thuật ngữ phát thanh được Luật Báo chí 2016 giải thích như sau: Báo nói là loại hình báo chí sử dụng tiếng nói, âm thanh, được truyền dẫn, phát sóng trên các hạ tầng kĩ thuật ứng dụng công nghệ khác nhau” Theo PGS.TS Nguyễn Văn Dững trong giáo trình “Cơ sở lý luận báo chí”: “Phát thanh là kênh truyền thông đại chúng sử dụng kĩ thuật sóng điện từ và hệ thống truyền dẫn truyền đi âm thanh tác động trực tiếp vào thính giác người tiếp nhận. Chất liệu chính của phát thanh là nghệ thuật sử dụng lời nói, tiếng động và âm nhạc trong việc tái hiện cuộc sống hiện thực. Thông điệp được mã hóa truyền qua kênh phát thanh và người nhận phải có máy thu thanh mới tiếp nhận được thông điệp” [14, tr.TS Đinh Thị Thu Hằng định nghĩa: Báo phát thanh là loại hình báo chí sử dụng ngôn ngữ âm thanh tổng hợp, bao gồm lời nói, tiếng động, âm nhạc đề truyền tải thông tin [23, tr.16] Kế thừa, phát triển các nghiên cứu đưa trước, tác giả xin đưa ra định nghĩa về phát thanh: Phát thanh là loại hình báo chí sử dụng ngôn ngữ âm thanh tổng hợp, gồm lời nói, tiếng động, âm nhạc để truyền tải thông tin đến thính giả.3 Quản lý thông tin đối ngoại trên sóng phát thanh Theo như Từ điển Tiếng Việt: quản lý tức là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay quá trình vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được những mục tiêu đã định.1363] Năm 1999, khi xuất bản cuốn Khoa học Tổ chức và Quản lý, tác Đặng Quốc Bảo nêu: “Qu n lý là quá tr nh lập kế ho h, hướng dẫn, tổ hứ và kiểm tr những nỗ lự á thành viên trong một tổ hứ. Đồng thời sử dụng những nguồn lự tổ hứ ó ể t ượ những mụ tiêu ụ thể.102] Từ các định nghĩa, khái niệm nêu trên, ta có thể khái quát rằng: “Qu n lý là một sự tá ộng liên tụ , ó kế ho h, ó mụ h h thể qu n lý ến i tượng qu n lý ể hỉ o, liên kết á yếu t ùng th m gi vào ho t ộng t o thành một hỉnh thể th ng nh t, nhằm t ượ mụ tiêu, yêu ầu và kết qu mà m nh mong mu n”.
Theo các phân tích ở trên, quản lý thông tin đối ngoại trên sóng phát thanh là một dạng quản lý báo chí. Quản lý thông tin đối ngoại trên sóng phát thanh là một dạng quản lý báo chí là sự tác động có tổ chức và được điều chỉnh bằng pháp luật trên cơ sở quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hoạt động TTĐN do các cơ quan có thẩm quyền trong hệ thống hành pháp từ Trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước, phát triển các mối quan hệ xã hội, thỏa mãn nhu cầu tự do báo chí, tự do ngôn luận trong hoạt động TTĐN. Quản lý thông tin đối ngoại trên sóng phát thanh là một dạng quản lý báo chí là hoạt động điều chỉnh bằng thao tác nghiệp vụ mang tính kỹ thuật và pháp lý (quy định của nội bộ cơ quan báo chí và pháp luật nói chung) nhằm tối ưu hóa việc sử dụng các nguồn lực, bảo đảm định hướng chính trị và chất lượng chuyên môn, mục đích nâng cao hiệu lực, hiệu quả thông tin, tuyên truyền về thông tin đối ngoại trên sóng phát thanh. Các yếu tố của quá trình quản lý thông tin đối ngoại ngoại trên sóng phát thanh 1.1 Chủ thể, đối tượng quản lý Chủ thể quản lý Trong phạm vi luận văn, tác giả nghiên cứu ở tầm vi mô, chủ thể quản lý tại toà soạn.
Theo đó, bộ máy quản lý thông tin của phát thanh nói chung và thông tin đối ngoại nói riêng thường bao gồm Tổng biên tập, các Phó Tổng biên tập, thư ký tòa soạn và trưởng, phó các phòng ban. Đó là những người có nhiệm vụ lập kế hoạch, xây dựng, điều hành sản xuất nội dung và duyệt, quyết định đưa nội dung đó lên phát thanh. Việc có nhiều tầng nấc và chủ thể quản lý như vậy nhằm góp phần để có những thông tin đối ngoại trên sóng phát thanh tốt nhất phục vụ công chúng. Lãnh đạo cao nhất làm việc tại các cơ quan báo chí là Ban Biên tập.
Đây là bộ não của tòa soạn, là ban quản lý, lãnh đạo tòa soạn, xây dựng phương hướng, chiến lược phát triển tòa soạn trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Ban Biên tập do cơ quan chủ quản thành lập làm nhiệm vụ bàn bạc và giải quyết các vấn đề liên quan đến xuất bản các ấn phẩm báo chí của tòa soạn, đứng đầu là Tổng biên tập, chịu trách nhiệm trước Đảng và Nhà nước về công tác tuyên truyền đối nội và đối ngoại, tổ chức cán bộ, vận hành tòa soạn xuất bản đều đặn các ấn phẩm đảm bảo chất lượng trong đó có quản lý thông tin đối ngoại trên sóng phát thanh. Tổng Biên tập chịu trách nhiệm phân công các thành viên trong Bộ Biên tập thực hiện công tác tổ chức, quản lý các phòng, ban chuyên môn và hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ, biên tập và duyệt tin bài hằng ngày, xây dựng các đề án phương hướng phát triển, đổi mới, nâng cao chất lượng các ấn phẩm, chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, phóng viên. Các thành viên Ban Biên tập chịu trách nhiệm trước Tổng biên tập về toàn bộ phần việc được phân công và tham gia chỉ đạo hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của phóng viên và công tác biên tập, xuất bản.
15 Bên cạnh đó, ở các tòa soạn phát thanh còn có đội ngũ quản lý là lãnh đạo cấp phòng, ban. Đây là đội ngũ lãnh đạo trực tiếp, thường xuyên chỉ đạo hoạt động của phóng viên, BTV. Lãnh đạo cấp phòng, ban tham gia các cuộc họp với lãnh đạo tòa soạn, tiếp thu ý kiến chỉ đạo và phổ biến lại cho toàn bộ đội ngũ nhân lực trong phòng, ban. Đây cũng là chủ thể quản lý đóng vai trò trung gian, phản ánh những ý kiến, nguyện vọng của đội ngũ phóng viên, BTV tới lãnh đạo tòa soạn.
Đối tƣợng quản lý Đối tượng quản lý thông tin đối ngoại trên sóng phát thanh là những đối tượng chịu sự quản lý, chi phối của đội ngũ lãnh đạo, quản lý, chịu trách nhiệm thực thi kế hoạch sản xuất, đăng tải thông tin đối ngoại của chủ thể quản lý. Khách thể bao gồm các công đoạn trong quy trình sản xuất, nguồn nhân lực tham gia thực hiện quy trình sản xuất dưới gồm: Biên tập viên, phóng viên, cộng tác viên, kĩ thuật viên. Tất cả các thành viên này có trách nhiệm phối hợp thực hiện trong thực hiện nhiệm vụ viết bài, biên tập bài, thực hiện đúng quy trình sản xuất tác phẩm báo phát thanh để đem lại chương trình, chuyên mục phát thanh đạt hiệu quả cao, đáp ứng nhu cầu đặt ra.