Chương I. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU I.1 Thực trạng các vấn đề về tâm lý trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay: I.1 Trên thế giới: Sức khỏe tâm thần là một vấn đề được quan tâm ở thời điểm cuộc sống hiện đại ngày nay trên thế giới. Đối với những nước phát triển, các vấn đề về sức khỏe tâm thần, tâm lý các lứa tuổi và những tình trạng có liên quan được chú ý và quan tâm nhiều hơn so với các nước đang phát triển. Điều này xuất phát từ những lý do như điều kiện phát triển kinh tế của đất nước có ảnh hưởng đến thu nhập của từng hộ gia đình, các vấn đề về giáo dục và sự phát triển của giáo dục, những nhận thức và phong tục – tập quán của các nhóm dân tộc, nhóm người.
Và Việt Nam là một trong những nước đang phát triển có một tầm nhìn còn hạn chế về vấn đề này. Theo các chuyên gia của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) rằng, đến năm 2020, trầm cảm là căn bệnh thứ hai gây hại cho sức khỏe con người (chỉ sau tim mạch). Mặc dù có mức độ ảnh hưởng lớn, nhưng trầm cảm chỉ là một phần của các chứng bệnh tâm lý ở người trẻ như lo âu, căng thẳng, bạo lực, sang chấn tâm lý, tăng động rối loạn giới tính đang diễn ra hằng ngày ở trường học và gia đình.2 Ở Việt Nam: Mặc dù tỷ lệ mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần được báo cáo trong các nghiên cứu tài liệu có sẵn là tương đối thấp, quan điểm chung cho rằng vấn đề sức khỏe tâm thần và tâm lý xã hội đều đang gia tăng ở Việt Nam, đặc biệt trong trẻ em và thanh thiếu niên. Trong khi các dịch vụ sức khỏe tâm thần và tâm lý xã hội mới được cung ứng thông qua các trung tâm bảo trợ và công tác xã hội, các bệnh viện tâm thần và các phòng tham vấn tâm lý học đường, chất lượng và độ bao phủ của các dịch vụ này còn giới hạn và thường tập trung vào những rối loạn tâm thần nặng.
Nghiên cứu này, do UNICEF Việt Nam thực hiện, Viện Nghiên cứu Phát triển Hải ngoại (ODI) và Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới đảm trách chuyên môn nghiên cứu và kỹ thuật, nhằm mục đích cung cấp một cái nhìn tổng quan về thực trạng sức khỏe tâm thần ở trẻ em và thanh niên tại một số tỉnh và thành phố ở Việt Nam. Tỷ lệ hiện mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần chung ở Việt Nam từ 8% đến 29% đối với trẻ em và vị thành niên, với những khác biệt về tỷ lệ tùy theo tỉnh, giới tính và đặc điểm của người trả lời. Một khảo sát dịch tễ học gần đây trên mẫu đại diện quốc gia của 10 trong số 63 tỉnh/thành cho thấy mức trung bình các vấn đề sức khỏe tâm thần trẻ em vào khoảng 12%, tương đương hơn 3 triệu trẻ em có nhu cầu về các dịch vụ sức khỏe tâm thần (Weiss và cộng sự, 2014). Các loại hình vấn đề sức khỏe tâm thần phổ biến nhất trong trẻ em Việt Nam là các vấn đề hướng nội (ví dụ như lo âu, trầm cảm, cô đơn) và các vấn đề hướng ngoại (ví dụ như tăng động và giảm chú ý) (Anh và cộng sự., 2006; Nguyễn và cộng sự.
Trong khi đang gia tăng lo ngại về tỷ lệ tự tử trong thanh thiếu niên ở Việt Nam, tỷ lệ tự tử của Việt Nam được báo cáo là thấp đáng kể so với những ước tính toàn cầu. Trong một nghiên cứu ở 90 quốc gia, trên tổng số ca tử vong ở vị thành niên là 9,1% (Wasserman và cộng sự, 2005) trong khi ở Việt Nam, tỷ lệ này là 2,3% (Blum và cộng sự, 2012). Tuy nhiên, lạm dụng chất, đặc biệt là thuốc lá là phổ biến trong nam vị thành niên Việt Nam (gần 40%) (Bộ Y tế, Tổng cục Thống kê, Tổ chức Y tế Thế giới và UNICEF, 2010). Mặc dù tỷ lệ mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần được báo cáo trong các tài liệu có sẵn là tương đối thấp, tất cả người tham gia nghiên cứu cùng chung quan điểm cho rằng tuy khó có thể ước lượng một cách chính xác.
Trong khi các nghiên cứu toàn cầu nhấn mạnh tầm quan trọng của nghèo đói, thiên tai, di cư và gia đình li tán là những nguyên nhân của bệnh tâm thần, thì đó lại không phải là những chủ đề được đề cập nhiều trong các tài liệu có sẵn ở Việt Nam vốn có chiều hướng y khoa hóa cao. Vì vậy, chúng tôi đã cố gắng hướng sự chú ý tới các yếu tố kinh tế - xã hội trong phân tích dữ liệu sơ cấp. nhưng cả vấn đề sức khỏe tâm thần và tâm lý xã hội đều đang lan rộng và gia tăng, đặc biệt ở trẻ em và thanh thiếu niên.2 Các khái niệm: Sức khỏe tâm thần được xem là một bộ phận không thể tách rời trong định nghĩa về sức khỏe (xem WHO, 2001), trong đó sức khỏe tâm thần không chỉ là không bị mắc rối loạn tâm thần, mà còn bao hàm trạng thái thoải mái, sự tự tin vào năng lực bản thân, tính tự chủ, năng lực và khả năng nhận biết những tiềm năng của bản thân. Những người cần sự hỗ trợ về tâm lý/ những người có khó khăn về sức khỏe tâm thần được xác định theo nhiều cách khác nhau như: “mất năng lực nhận thức”, “tiêu cực”, hoặc “bất bình thường”.
Tương tự, họ tin rằng những người đó có “suy nghĩ khác lạ”, bị “một loại bệnh gì đó”, là “một ngoại lệ”, hoặc “không ổn định”. Trong khi nghĩ rằng kỳ thị đối với người gặp khó khăn về sức khỏe tâm thần đang giảm xuống, người trả lời cũng đề cập đến việc mọi người có thể không bộc lộ ra ngoài nhưng trong thâm tâm họ vẫn có sự kỳ thị và/hoặc tỏ ra lãnh đạm đối với người có khó khăn về sức khỏe tâm thần, và kết quả là khiến mọi người có tâm lý ngại ngần khi tiếp cận các dịch vụ. Câu chuyện của người trả lời cũng thường xoay quanh “các tệ nạn xã hội”, từ đó kết nối với những thảo luận về nghiện chất, nghiện game trực tuyến và đánh bạc, những điều hàm chứa cả những ngụ ý về sức khỏe tâm thần và tâm lý xã hội cũng như các những ngụ ý về các hành vi chống đối xã hội khác ví dụ như trộm cắp. Trầm cảm theo WHO là “một rối loạn tâm thần phổ biến, đặc trưng bởi sự buồn bã, mất đi hứng thú hoặc khoái cảm, cảm thấy tội lỗi hoặc tự hạ thấp giá trị bản thân, bị rối loạn giấc ngủ hoặc ăn uống và kém tập trung”.3 Các nguyên nhân: Theo nhiều nghiên cứu, trầm cảm sinh ra từ những nguyên nhân chủ quan - bên trong người mắc phải như các suy nghĩ, cảm xúc tiêu cực trong thời gian dài và cả những nguyên nhân khách quan bên ngoài tác động.
Trong đó ngoài những yếu tố liên quan đến lối sống, văn hóa, phong tục – tập quán, xã hội, cách đối xử của những người xung quanh thì những yếu tố về môi trường và không gian sống cũng có tác động không nhỏ đến tâm lý và gây ra trầm cảm. Những tác động này không gây hậu quả tức thời nhưng ảnh hưởng một cách chậm rãi, từ từ theo kiểu “mưa dầm thấm lâu”, điều này làm cho những nạn nhân không hề nhận biết được nên cách phòng chống cũng không hề được trang bị. Sau đây là những nguyên nhân được đúc kết từ nhiều nguồn, tài liệu, bao gồm cả những nguyên nhân ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần nói chung, trầm cảm nói riêng (trầm cảm là một phần của sức khỏe tâm thần, nên những nguyên nhân ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần cũng góp phần dẫn đến trầm cảm).1 Các nguyên nhân chủ quan: Theo nhiều tài liệu, trầm cảm xuất phát từ những sự kiện lớn trong cuộc sống có tác động mạnh mẽ đến tinh thần và cảm xúc của người mắc bệnh. Các sự kiện đau buồn và tiêu cực xảy ra có thể dẫn đến trầm cảm như mất đi người thân, ly hôn, chấn thương tâm lý thời thơ ấu, các vấn đề về công việc, các mối quan hệ về bạn bè và gia đình, các vấn đề về tài chính, lo ngại về y tế hoặc căng thẳng cấp tính.
Những người có tính cách nhạy cảm, hay suy nghĩ nhiều và chịu đựng áp lực kém cũng có nguy cơ mắc bệnh cao hơn. Đặc biệt, những người đã từng trải qua sang chấn tâm lí thời thơ ấu hoặc đã từng mắc bệnh trầm cảm ở quá khứ cũng có khả năng mắc bệnh ở tương lai. Ngoài ra, theo khoa học, yếu tố di truyền (gen) cũng là một trong những nguyên nhân. Những người có người thân mắc bệnh cũng có nguy cơ cao hơn so với những người bình thường.
Việc lạm dụng các chất kích thích như rượu, bia, thuốc lá góp phần tăng cao khả năng trầm cảm. Chất dẫn truyền serotonin trong thần kinh là nguyên nhân chính gây ra căn bệnh này. Serotonin luôn phải được duy trì ở một mức độ phù hợp, thiếu serotonin sẽ sinh ra trầm cảm và rối loạn giấc ngủ.2 Các nguyên nhân khách quan (trừ các yếu tố liên quan đến môi trường sống và không gian sống): * Văn hóa cộng đồng: Khác với các nước phương Tây, Việt Nam có một lối sống cộng đồng đặc trưng: lợi ích của tập thể (gia đình, họ hàng, xã hội…) luôn được ưu tiên hàng đầu. Điều này không hẳn là có hại, vì nó giúp ích cho sự phát triển và lợi ích chung của một tập thể.
Tuy nhiên, lối sống ấy cũng khiến cho các nhu cầu cá nhân bị xem nhẹ và bỏ qua. Với những người mắc bệnh tâm lý, lối sống cộng đồng càng khiến cho họ khó nói lên khó khăn của mình, vì lo ngại rằng sẽ bị cho là ích kỷ, chỉ biết nghĩ đến bản thân. [6] Ngoài ra, ở các nước phương Đông từ lâu đời đã có những quan điểm và suy nghĩ khá nguyên tắc, đôi khi cứng nhắc về việc lễ nghi giữa người với người, điển hình ở Việt Nam vẫn còn tồn tại những quan niệm về “tốt khoe xấu che”, luôn thể hiện bản thân mình một cách hoàn hảo trước mắt người đối diện. Dần dần, chính những quan niệm và suy nghĩ này cũng khiến cho người ta quan tâm quá mức tới những gì người khác nghĩ về mình.
Đôi khi, những gia đình có thành viên bị mắc các chứng rối loạn tâm lý không đưa họ đi thăm khám kịp thời, chỉ vì lo ngại hàng xóm và bạn bè sẽ biết gia đình có người “mắc bệnh tâm thần”.