Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIÊU THỤ NÔNG SẢN VÀ CÁC SẢN PHẨM TRÀ QUA HỆ THỐNG SIÊU THỊ 1. Nông sản và các sản phẩm trà 1. Các khái niệm về nông sản Theo Hiệp định nông nghiệp của WTO, nông sản bao gồm các loại hàng hoá có nguồn gốc từ hoạt động nông nghiệp, gồm: (i). Các sản phẩm nông nghiệp cơ bản như lúa gạo, lúa mỳ, bột mỳ, sữa, động vật sống, cà phê, hồ tiêu, hạt điều, chè, rau quả tươi; (ii).
Các sản phẩm phái sinh như bánh mỳ, bơ, dầu ăn, thịt; (iii). Các sản phẩm được chế biến từ sản phẩm nông nghiệp như bánh kẹo, sản phẩm từ sữa, xúc xích, nước ngọt, rượu, bia, thuốc lá, bông xơ, da động vật thô. Theo Bộ nông nghiệp Hoa Kỳ, thì nông sản bao gồm các sản phẩm từ hàng hóa chưa chế biến như đỗ tương, ngũ cốc, lúa mỳ, gạo và bông thô đến các thực phẩm và đồ uống đã được chế biến có giá trị cao như xúc xích, bánh, bia rượu, các đồ gia vị được bán lẻ trong các cửa hàng, tiệm ăn. Theo Hiệp định về chương trình thuế quan ưu đãi cho khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) thì nông sản hay nông phẩm được hiểu là sản phẩm do ngành sản xuất nông nghiệp tạo ra.
Còn nông sản phẩm hàng hóa là nông sản được sản xuất ra từ nông nghiệp và được đưa ra thị trường để tiêu thụ. Ở Việt Nam, tại Nghị định 57/2018/NĐ-CP về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn quy định rõ “Nông sản là sản phẩm của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, diêm nghiệp”. Các đặc điểm của nông sản Nông sản bao gồm những sản phẩm thiết yếu phục vụ đời sống và sản xuất của người dân ở mỗi quốc gia, đây là sản phẩm của ngành nông nghiệp mà bản chất là kết quả của quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng, vật nuôi. Do vậy, nông sản mang một số đặc điểm của hoạt động sản xuất nông nghiệp: a) Tính thời vụ: Do mỗi một loại cây trồng, vật nuôi đều sinh trưởng và phát triển theo quy luật sinh học, nên có các yêu cầu tương đối về mặt sinh thái (điều kiện thời tiết, khí hậu, đất đai,.), điều này tạo nên những mùa vụ khác nhau trong sản xuất.
Trong đó, nông sản thường dồi dào, phong phú về chủng loại, chất lượng khá đồng đều và giá rẻ vào thời điểm chính vụ, ngược lại, sẽ khan hiếm, chất lượng không đều nhau và giá bán thường cao vò thời điểm cuối vụ và đầu vụ. Nông sản phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên Do cây trồng, vật nuôi luôn chịu tác động lớn từ điều kiện tự nhiên (như đất đai, thời tiết, khí hậu,.), nên mọi sự thay đổi của diều kiện tự nhiên đều ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng, vì vậy, đa phần các nông sản cũng đều rất nhạy cảm với sự thay đổi về điều kiện tự nhiên đều tác động trực. Kh điều kiện tự nhiên thuận lợi, cây trồng sinh trưởng và phát triển bình thường, cho sản lượng thu hoạch cao, chất lượng tốt, ngược lại, nếu điều kiện tự nhiên bất thuận (như lũ lụt, hạn hán, giá rét.) sẽ gây sụt giảm về năng suất và sản lượng cây trồng. Chất lượng nông sản ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe người tiêu dùng Do phần lớn nông sản những sản phẩm thiết yếu phục vụ đời sống và sản xuất của con người, nên chất lượng nông sản luôn là tiêu chí đầu tiên được người tiêu dùng quan tâm khi quyết định mua hàng, vì nó sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người sử dụng.
Hiện nay, Ở Việt Nam nói riêng và các nước phát triển, ngày càng có nhiều yêu cầu khắt khe về chất lượng, vệ sinh ATTP, kiểm dịch, xuất xứ,… đối với hoạt động nhập khẩu nông sản. Nông sản có tính đa dạng Trên cơ sở đa dạng cả về chủng loại và chất lượng của các loại giống cây trồng, vật nuôi ở nhiều vùng sinh thái, địa lý, tự nhiên khác nhau với nhiều tập quán và trình độ thâm canh các nhau của mỗi vùng, mỗi hộ, do đó, nông sản cũng có đặc điểm đa dạng cả về chủng loại và chất lượng. Các sản phẩm Trà 1. Các khái niệm về trà * Các sản phẩm Trà truyền thống: Theo TS.
Chu Xuân Ái (2017), chè là sản phẩm đồ uống, chế biến từ búp chè tươi gồm 1 tôm (mầm lá), cọng, kèm theo 2 - 3 lá non, gọi chung là nguyên liệu chè. Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại sản phẩm chè khác nhau, mỗi loại đều có những tính chất đặc trưng riêng, khác nhau về ngoại hình, màu nước và hương vị của chúng, cụ thể: - Chè xanh có ngoại hình màu xanh xám hoặc xám bạc; nước pha có màu xanh tươi hoặc xanh vàng; hương thơm đặc trưng của giống chè và mùi cốm nhẹ; vị chát đượm, dịu và có hậu ngọt. - Chè đen có ngoại hình nâu đen, bóng; nước pha có màu đỏ nâu, tươi sáng, có viền vàng, sánh; có hương thơm mùi hoa quả, mùi mật ong; vị chát dịu, có hậu. - Chè đỏ, hay còn gọi là chè lên men bán phần, có các đặc tính gần với chè đen; nước pha màu đỏ hơi vàng, trong sáng; vị chát mạnh hơn chè đen; hương thơm mạnh và bộc lộ mùi hoa quả tự nhiên.
- Chè vàng có các đặc tính gần với chè xanh; có màu nước pha vàng sáng; vị chát đượm; hương thơm mạnh và bền mùi. Các loại sản phẩm chè có các đặc tính, đặc trưng khác nhau là do trong quá trình chế biến đã tạo ra được sự chuyển hoá các chất có trong nguyên liệu chè bằng các kỹ thuật công nghệ khác nhau. Chủ yếu là tạo ra được những tác động vào nhóm hợp chất phenol thực vật, nhóm hợp chất có tính quyết định đến các tính chất đặc trưng của các loại sản phẩm chè. Ngoài ra, trên thị trường còn có rất nhiều loại sản phẩm chè.
Chè hương, chè hoa là các sản phẩm chè mà nguyên liệu ban đầu để chế biến là chè xanh, 10 chè đen (thành phẩm) được ướp thêm hương liệu khô hoặc ướp hoa tươi. Ở một số nước, chè còn được tinh chế ra các sản phẩm chè như chè hoà tan, chè túi nhúng, chè thảo dược, xi rô chè, nước giải khát từ chè có hương hoa quả và nhiều dạng khác. * Các sản phẩm trà thảo mộc Trà thảo mộc là một trong những loại trà đã được sử dụng lâu đời. Tuy nhiên, trà thảo mộc hoàn toàn không chỉ riêng các loại trà từ cây trà thông dụng như chúng ta đã biết như trà xanh, trà đen, trà ô long, được ủ từ lá của cây trà, mà còn rất nhiều loại khác như các loại trà được làm từ trái cây khô, trà hoa, gia vị hoặc cây cỏ.
Điều này có nghĩa là các loại trà thảo mộc có thể có nhiều hương thơm và hương vị khác nhau, tạo ra một sự thay thế hấp dẫn cho đồ uống có đường hoặc nước. Hiện nay, trên thị trường Việt Nam có một số loại trà thảo mộc phổ biến như: Trà hoa cúc, trà bạc hà, trà gừng, trà atiso, hồng trà Nam Phi, trà cỏ ngọt, trà hoa hồng, trà vối, trà đậu biếc, trà gạo lứt, trà cam quế, trà giảo cổ lam gần đây trên thị trường Thanh Hóa có trà sả chanh, trà lá sen, trà khổ qua, trà diệp hạ châu, trà rau má, trà linh chi, trà hoa vàng, trà hoa nhài, trà bạc hà. Theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7975:2008, Trà túi lọc thảo mộc được hiểu là “Sản phẩm thu được từ một loại thảo mộc hoặc từ hỗn hợp của một số loại thảo mộc, có hoặc không có chè (Camellia sinensis (L. Kuntze), được chế biến bằng công nghệ thích hợp, với kích thước nhỏ, có hoặc không bổ sung hương liệu và được đóng gói trong các túi nhỏ làm bằng giấy lọc”.
Đặc điểm khác biệt của các sản phẩm Trà thảo dược Một là, Đầu tiên, bản thân trà thảo mộc phần lớn được chế biến từ cây dược liệu nên có thể giúp phát huy tác dụng điều trị hoặc phát huy tác dụng thuốc điều trị một số loại bệnh. Những loại thảo dược chứa nhiều tinh dầu và có hương thơm như trần bì, trà hoa hồng rất có hiệu quả khi được bài chế bằng phương thức trà thảo dược nhưng phải tránh nấu quá lâu. Những loại thảo dược được bào chế thành dạng bột, mặt tiếp xúc với dung môi rất lớn, 11 hơn nữa có thể pha nhiều lần cho đến khi mùi vị nhạt đi, như vậy càng có lợi trong việc tận dụng hết các chất trong trà thảo dược. Ngoài việc ngon, một số loại trà thảo mộc có đặc tính tăng cường sức khỏe, giúp làm đẹp, an thần.
Trên thực tế, trà thảo mộc đã được sử dụng như một phương thuốc tự nhiên cho nhiều loại bệnh trong hàng trăm năm. Thật thú vị, khoa học hiện đại đã bắt đầu tìm thấy bằng chứng ủng hộ một số công dụng truyền thống của các loại trà thảo mộc này. Hai là, nguyên liệu của các phương thuốc trà thảo dược dễ tìm, tiện lợi khi sử dụng, cho nên nó dễ được nhiều người tiếp nhận. Ba là, trà thảo dược giúp giảm áp lực về tinh thần khi uống thuốc tây, tránh bị bệnh đau dạ dày, có lợi cho việc điều trị các bệnh mãn tính.
Bốn là, vì trong trà thảo dược ít dùng dược phẩm, thường sử dụng những nguyên liệu có sẵn trong thiên nhiên, cho nên chúng ta vừa có thể tiết kiệm dược liệu, vừa tiết kiệm chi phí điều trị bệnh. Tình hình tiêu thụ nông sản và các sản phẩm Trà tại Việt Nam 1. Tình hình tiêu thụ nông sản thực phẩm tại Việt Nam a) Tình hình tiêu thụ nông sản thực phẩm tại Việt Nam Hệ thống phân phối thực phẩm Việt Nam có một số đặc trưng nhất định. Thực phẩm được di chuyển từ người sản xuất đến người tiêu dùng thông qua hai kênh phân phối chính: kênh phân phối truyền thống và kênh phân phối hiện đại.
Kênh truyền thống đặc trưng bởi hệ thống chợ (chợ chính thống và chợ đường ven đường, chợ cóc) được hình thành và phát triển từ lâu đời, trong khi kênh hiện đại cung cấp thực phẩm tới người tiêu dùng thông qua các siêu thị và trung tâm thương mại (Maruyama and Trung 2007, 2010, 2012).